CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động chất vấn 1. Khái niệm hoạt động chất vấn Chất vấn là một hoạt động phổ biến của Nghị viện các quốc gia, tùy theo hình thức chính thể của mỗi nước mà hoạt động này có cơ sở hình thành nguyên tắc và cách thức tiến hành khác nhau. Ở nước Anh, quê hương của mô hình Nghị viện, chất vấn được xem như là công cụ để Nghị viện Anh giám sát mọi hoạt động của Chính phủ, cụ thể là nghị sĩ sẽ đưa ra các chất vấn, Chính phủ hoặc thành viên của Chính phủ có trách nhiệm trả lời các chất vấn của nghị sĩ.
Sự giám sát này xuất phát từ lý do nước Anh là quốc gia theo hình thức chính thể Quân chủ đại nghị, nhân dân tiến hành bầu ra Nghị viện (Hạ viện), còn Chính phủ thì được thành lập trên cơ sở của Nghị viện và đây là cơ sở hình thành nên chức năng giám sát của Nghị viện. Nghị viện Anh sử dụng hình thức chất vấn như là công cụ hữu hiệu để Nghị viện giám sát Chính phủ. Bởi lẽ, niềm tin của Nghị viện là cơ sở để Chính phủ tồn tại, nếu mối quan hệ giữa Nghị viện và Chính phủ khăng khít, Nghị viện sẽ “bảo vệ” Chính phủ trong một chừng mực nào đó. Ngược lại, nếu mối quan hệ giữa Nghị viện và Chính phủ không còn khăng khít thì Nghị viện sẽ tiến hành hoạt động chất vấn Chính phủ, đến một lúc nào đó Chính phủ đánh mất niềm tin của Nghị viện thì Nghị viện sẽ tuyên bố bất tín nhiệm Chính phủ, điều này có thể dẫn đến thay đổi cả Chính phủ (Thủ tướng phải nộp đơn lên nguyên thủ quốc gia để xin từ chức, từ chức tập thể cả Thủ tướng và toàn bộ Nội các giúp việc cho Thủ tướng).
Qua nghiên cứu các hình thức chính thể trong thế giới đương đại, có thể nhận thấy rằng dù các quốc gia theo hình thức chính thể Đại nghị hay chính thể Cộng hòa hỗn hợp cũng áp dụng phổ biến hình thức chất vấn để thực hiện chức năng giám sát của Nghị viện. Về sau, Nghị viện các quốc gia theo chính thể Cộng hòa tổng thống cũng áp dụng các hoạt động tương tự như chất vấn, điển hình như ở Hoa Kỳ tuy không có hoạt động chất vấn nhưng Nghị viện Hoa Kỳ có thể giám sát Chính phủ bằng một số hoạt động có tính chất tương tự như: hoạt động điều tra của các ủy ban của Nghị viện, phiên điều trần, luận tội. Hiện nay, giám sát đã trở thành chức năng quan trọng của Nghị viện/Quốc hội, mặc dù chức năng này chỉ được hình thành sau chức năng Lập pháp. Các quốc gia theo các hình thức chính thể khác nhau thì cách tiếp cận về hoạt động chất vấn cũng sẽ khác nhau, nhưng nhìn chung thì hoạt động chất vấn có thể được hiểu là “Chất vấn của Nghị viện là những yêu cầu thể hiện bằng miệng hoặc văn bản của 6 các nghị sĩ đối với Chính phủ và các thành viên của Chính phủ đề nghị giải thích một vấn đề nào đó”2.
Ở Việt Nam, dưới góc độ ngôn ngữ thì chất vấn hiểu theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt (Thành Yến chủ biên) là “Hỏi và yêu cầu giải thích rõ ràng: Đại biểu quốc hội trả lời chất vấn”3. Trong khi đó, chất vấn (interpellate) theo định nghĩa của từ điển Cambridge được hiểu là “Quốc hội đặt câu hỏi chính thức cho một Bộ trưởng của Chỉnh phủ liên quan đến vấn đề chính sách”4. Trên thực tế, thông qua quá trình nghiên cứu chế định chất vấn đã có rất nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm chất vấn, điển hình như: Tác giả Nguyễn Sĩ Dũng thì cho rằng “Chất vấn (interpellation) được định nghĩa là yêu cầu của nghị sĩ đối với Thủ tướng hay các thành viên của của Chính phủ ra trước phiên họp toàn viện để trả lời về sự thi hành chính sách quốc gia hay một vấn đề hiện thời nào đó của quốc gia”5. Tác giả Nguyễn Đình Quyền6 thì cho rằng “Chất vấn là quyền, hình thức giám sát quan trọng nhất của đại biểu Quốc hội.
Chất vấn là yêu cầu của đại biểu trong việc làm rõ trách nhiệm của người bị chất vấn, buộc người bị chất vấn phải báo cáo, giải trình trước cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất về những vấn đề liên quan trách nhiệm của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định”7. Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Đức Giang cho rằng “Chất vấn là một hình thức giám sát của Đại biểu Quốc hội, hoạt động chất vấn thể hiện quyền lực của cơ quan dân cử và trách nhiệm của các Đại biểu dân cử với cử tri của mình, đồng thời cũng xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan công quyền”8. Trong phạm vi nghiên cứu của Khóa luận này, khái niệm chất vấn được hiểu với một khái niệm có nội hàm rộng hơn. Trước hết chất vấn là quyền của ĐBQH - người đại diện cho nhân dân, được nhân dân trao quyền thực hiện hoạt động chất vấn đối với một số đối tượng bị chất vấn theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Đối tượng bị chất vấn buộc phải trả lời, giải thích những vấn đề bị chất vấn 2 http://caicachhanhchinh.vn/kinh-nghiem-cai-cach-cac-nuoc/hoat-dong-giam-sat-cua-nghi-vien-mot-so- nuoc-251.html#top-page, (truy cập ngày 08 tháng 3 năm 2023). 3 Từ điển tiếng Việt thông dung – Thành Yến biên soạn, Nxb Dân trí, 2022.org/vi/dictionary/english/interpellate?q=+interpellate, (truy cập ngày 08 tháng 3 năm 2023). 5 Nguyễn Sĩ Dũng (2011), “Tổ chức và hoạt động của Nghị viện các nước trên thế giới”, https://thuvien.vn/sites/default/files/nghi_vien_the_gioi-ok. 6 Tác giả Nguyễn Đình Quyền hiện đang giữ chức vụ Viện trưởng Nghiên cứu lập pháp Quốc hội.
7 Nguyễn Đình Quyền (2016), “Giám sát thông qua hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội”, https://nhandan.vn/giam-sat-thong-qua-hoat-dong-chat-van-cua-dai-bieu-quoc-hoi-post270861. 8 Nguyễn Đức Giang (2022), “Một số vấn đề về chất vấn của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 316(5/2022), tr. 7 trong các lĩnh vực mà mình phụ trách một cách cụ thể. Bên cạnh đó, họ còn có trách nhiệm nêu lên những bất cập và chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những bất cập đó.
Đồng thời phải xây dựng phương án, biện pháp khắc phục đối với những vấn đề bị chất vấn. Họ phải chịu trách nhiệm đối với những vấn đề thuộc lĩnh vực mà mình quản lý hoặc những hoạt động của cơ quan mà họ là người đứng đầu. Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm chất vấn, nhưng nhìn chung thì hoạt động chất vấn có thể được hiểu là: “Chất vấn là một hình thức giám sát của cơ quan Lập pháp chủ yếu đối với cơ quan Hành pháp, được tiến hành định kỳ tại phiên họp của Nghị viện. Thành viên của Nghị viện/Quốc hội đưa ra câu hỏi về các vấn đề liên quan tới hoạt động của đối tượng bị chất vấn, yêu cầu các đối tượng này trả lời về những vấn đề thuộc trách nhiệm của mình”.
Đặc điểm của hoạt động chất vấn Để thấy được vai trò và sự cần thiết của hoạt động chất vấn trong quá trình quản lý, điều hành hoạt động của bộ máy nhà nước, việc nghiên cứu những đặc điểm của hoạt động này là vô cùng cần thiết. Tuy có sự khác nhau về cách thức thực hiện ở mỗi quốc gia, nhưng nhìn chung hoạt động chất vấn có những đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, chất vấn là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia là khác nhau, tùy thuộc vào hình thức chính thể của từng quốc gia. Đối với các quốc gia tổ chức nhà nước theo nguyên tắc phân quyền thì có sự phân chia rạch ròi giữa ba nhánh quyền lực Lập pháp - Hành pháp - Tư pháp. Điển hình như Hoa Kỳ là quốc gia áp dụng nguyên tắc “phân quyền cứng” triệt để, có sự phân chia mạnh mẽ giữa các nhánh quyền lực.
Mặc dù quyền giám sát của Nghị viện đối với các nhánh quyền lực còn lại bị hạn chế nhưng vẫn có các hình thức giám sát như: hoạt động điều tra tại các ủy ban; phiên điều trần; luận tội nhằm đáp ứng nhu cầu kiềm chế - đối trọng giữa các nhánh quyền lực. Như vậy có thể thấy dù áp dụng nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước phân quyền hay thống nhất thì Nghị viện vẫn có chức năng giám sát đối với các nhánh quyền lực còn lại. Hoạt động chất vấn tại nghị trường nhằm thể hiện chức năng giám sát của Nghị viện/Quốc hội, được thực hiện bởi những chủ thể mang quyền lực nhà nước. Nghị sĩ/đại biểu Quốc hội - những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân.
Họ thay mặt nhân dân chất vấn những vấn đề liên quan đến lợi ích của đa số cử tri, được đông đảo nhân dân quan tâm, những vấn đề mà dư luận xã hội đang bức xúc và cần có giải pháp tháo gỡ, ứng phó kịp thời. 8 Ở nước Anh, kết quả của phiên chất vấn có thể là một tuyên bố bất tín nhiệm của Nghị viện đối với một thành viên hoặc tập thể Chính phủ, là một loại trách nhiệm chính trị. Còn ở Hoa Kỳ, nếu cuộc đàn hạch/luận tội Tổng thống thành công thì sẽ tiến hành phế truất Tổng thống, Tổng thống sẽ bị cơ quan Tư pháp đưa ra xét xử như một công dân bình thường và phải chịu những chế tài, hình phạt tương ứng với những sai phạm của mình. Còn ở Pháp, nếu Hạ viện tiến hành bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ thì Thủ tướng phải đệ đơn từ chức của Chính phủ lên Tổng thống (từ chức tập thể Chính phủ)9.
Ở Cộng hòa Liên bang Đức, nếu Nghị viện không còn niềm tin đối với Chính phủ thì có thể dẫn đến việc Nghị viện tiến hành bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Thủ tướng Liên bang. Luật cơ bản Cộng hòa Liên bang Đức cho phép Hạ viện bày tỏ sự thiếu tín nhiệm đối với Thủ tướng Liên bang bằng cách bầu ra một người kế nhiệm với đa số phiếu của Hạ nghị sĩ và yêu cầu Tổng thống Liên bang phế truất Thủ tướng Liên bang10, Tổng thống Liên bang buộc phải chấp nhận yêu cầu này và chỉ định người được bầu. Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy rằng hoạt động chất vấn được thực hiện bởi các chủ thể mang quyền lực nhà nước và đối tượng bị chất vấn có thể sẽ gánh chịu những hệ quả pháp lý nặng nề, do đó chất vấn là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước rất cao.