Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục mầm non, hoạt động vui chơi giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển toàn diện của trẻ mẫu giáo. Việc hình thành các biểu tượng toán sơ đẳng, đặc biệt là biểu tượng số lượng cho trẻ giai đoạn 5 – 6 tuổi, đóng vai trò nền tảng giúp trẻ phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận thức và chuẩn bị tâm thế bước vào lớp Một. Tuy nhiên, kiến thức toán học mang tính trừu tượng và logic cao, dễ dẫn đến sự khô khan nếu giáo viên chỉ áp dụng các phương pháp truyền thụ một chiều. Trong khi đó, trò chơi dân gian với đặc trưng gần gũi, luật chơi rõ ràng, dụng cụ tự nhiên dễ tìm và mang tính tập thể cao lại là phương tiện giáo dục trực quan sinh động, đáp ứng phương châm "học mà chơi, chơi mà học".

Thực tiễn chăm sóc và giáo dục tại trường Mẫu giáo Trùng Dương (xã Tam Tiến, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) cho thấy giáo viên chủ yếu đưa các trò chơi vận động hoặc trò chơi học tập hiện đại vào tiết dạy. Trò chơi dân gian chưa được quan tâm khai thác đúng mức, việc lồng ghép vào hoạt động làm quen với toán còn lúng túng, thiếu kế hoạch đồng bộ và chưa phát huy được giá trị nhận thức số lượng cho trẻ. Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lâm đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm nghiên cứu các giải pháp sư phạm khả thi.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc sử dụng trò chơi dân gian nhằm nâng cao hiệu quả hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5 – 6 tuổi.
  2. Điều tra, đánh giá thực trạng nhận thức của giáo viên và thực trạng mức độ hình thành biểu tượng số lượng của trẻ 5 – 6 tuổi tại trường Mẫu giáo Trùng Dương.
  3. Đề xuất các nguyên tắc, cách thức và tiến hành thực nghiệm sư phạm việc sử dụng trò chơi dân gian trong hoạt động làm quen với toán nhằm kiểm chứng tính hiệu quả.

Nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cách thức sử dụng trò chơi dân gian nhằm nâng cao hiệu quả hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5 – 6 tuổi.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường Mẫu giáo Trùng Dương – Tam Tiến – Núi Thành – Quảng Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận giới hạn nghiên cứu cách thức sử dụng trò chơi dân gian thông qua hoạt động làm quen với toán trên tiết học có chủ đích tại trường Mẫu giáo Trùng Dương trong thời gian từ tháng 02 đến tháng 04 năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm và học thuyết giáo dục, tâm lý học kinh điển:

  • Khái niệm công cụ:
    • Biểu tượng được tiếp cận từ góc độ Triết học duy vật biện chứng, Từ điển Tâm lý học và Từ điển Tiếng Việt, xác định là hình ảnh của sự vật, hiện tượng lưu giữ lại trong ý thức sau khi sự tri giác trực tiếp chấm dứt.
    • Số lượng là khái niệm chỉ số phần tử có trong một tập hợp tại một không gian và thời điểm xác định.
    • Biểu tượng số lượng ở trẻ 5 – 6 tuổi bao gồm ba nội hàm chính: biểu tượng về số lượng (đếm số lượng trong một nhóm vật), biểu tượng về mối liên hệ số lượng (so sánh số lượng giữa hai nhóm đối tượng), và biểu tượng về mối quan hệ số lượng (so sánh sự hơn kém đơn vị).
    • Trò chơi dân gian trẻ em là hoạt động văn hóa dân gian do nhân dân sáng tạo, lưu truyền tự nhiên qua các thế hệ nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi và giáo dục nhẹ nhàng. Tác giả lựa chọn khung phân loại của Trần Hòa Bình và Bùi Lương Việt, chia trò chơi dân gian thành: trò chơi trí tuệ, trò chơi thẩm mỹ và trò chơi thể lực.
  • Cơ sở lý luận nền tảng:
    • Luận điểm của L.X. Vygotsky về hoạt động chơi tạo ra "vùng phát triển gần nhất" (vùng cận phát triển) và hoàn cảnh chơi tưởng tượng là con đường dẫn đến tư duy trừu tượng.
    • Học thuyết phát triển trí tuệ của J. Piaget (1945) trong công trình "Play, Dreams and Imitation in childhood" về các giai đoạn trò chơi: hành động chức năng, tượng trưng và trò chơi có quy tắc; cùng các bổ sung của S. Smilansky.
    • Các công trình nghiên cứu trong nước của PGS.TS. Nguyễn Ánh Tuyết, PGS.TS. Đỗ Thị Minh Liên, ThS. Trần Thị Hà, Lê Anh Thơ, Lê Thị Ninh, Đỗ Thị Hòa về phương pháp cho trẻ làm quen với toán và sử dụng trò chơi trong giáo dục mầm non.
    • Khung pháp lý và quy chuẩn: Thông tư 34/2013/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành danh mục thiết bị, đồ chơi tối thiểu dùng cho giáo dục mầm non; chương trình giáo dục mầm non đổi mới triển khai từ năm học 2009 – 2010.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu chuyên ngành.
  • Phương pháp điều tra thực tiễn:
    • Điều tra bằng bảng hỏi (an-két) đối với 10 giáo viên đang trực tiếp giảng dạy trẻ 5 – 6 tuổi tại trường Mẫu giáo Trùng Dương.
    • Phương pháp đàm thoại sâu với giáo viên mầm non về phương pháp tổ chức tiết dạy toán.
    • Phương pháp quan sát sư phạm trực tiếp các tiết học làm quen với toán.
    • Khảo sát năng lực thực tế trên 30 trẻ lớp Lớn 1 qua hệ thống 4 bài tập đánh giá theo thang điểm 20.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng theo quy trình 3 bước (khảo sát ban đầu, thực nghiệm hình thành, kiểm chứng đầu ra).
  • Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các đại lượng thống kê (điểm trung bình, tỷ lệ phần trăm, độ lệch chuẩn) để xử lý dữ liệu định lượng.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu điều tra sơ cấp từ giáo viên và trẻ tại trường Mẫu giáo Trùng Dương, báo cáo cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, kế hoạch chăm sóc - giáo dục theo 7 chủ đề năm học của nhà trường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc sử dụng trò chơi dân gian nhằm nâng cao hiệu quả hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5 – 6 tuổi

Chương 1 tập trung phân tích đặc điểm nhận thức toán học của trẻ 5 – 6 tuổi và vai trò sư phạm của trò chơi dân gian:

  • Đặc điểm nhận thức số lượng: Trẻ 5 – 6 tuổi đã có khả năng phân tích đối tượng trong nhóm, phân biệt nhóm lớn và nhóm nhỏ, ít bị chi phối bởi màu sắc, kích thước hay vị trí không gian của vật thể. Trẻ nắm vững trình tự dãy số tự nhiên từ 1 đến 10, thiết lập được tương ứng 1:1, hiểu số lượng phản ánh bản chất của tập hợp và đếm được cả âm thanh lẫn động tác.
  • Nội dung và tiến trình dạy học toán: Quá trình hình thành biểu tượng số lượng gồm 3 giai đoạn: Tích lũy biểu tượng (mọi lúc mọi nơi); Hoạt động học có chủ đích trên tiết học (gồm ôn luyện kiến thức cũ, cung cấp kiến thức mới, luyện tập củng cố); Củng cố và vận dụng sáng tạo.
  • Khai thác trò chơi dân gian vào 4 nội dung toán học trọng tâm:
    • So sánh số lượng hai nhóm đối tượng trong phạm vi 10 bằng cách xếp tương ứng 1:1: Ứng dụng trò chơi "Kéo co" (chia 2 đội, mỗi đội 10 trẻ, xếp cặp tương ứng nam - nữ để so sánh), "Cướp cờ" (trẻ đeo thẻ số từ 1 đến 10 xếp tương ứng với bạn mang số trùng khớp).
    • Rèn luyện kỹ năng đếm, thêm bớt biến đổi số lượng trong phạm vi 10 và nhận biết chữ số: Trò chơi "Ném còn" (đếm số còn ném trúng đích của từng đội, so sánh và tính toán số lượng cần thêm/bớt để hai đội bằng nhau), "Kéo co" (thêm hoặc bớt thành viên để điều chỉnh tương quan số lượng).
    • Sắp xếp 3 nhóm đối tượng theo thứ tự tăng/giảm dần và sử dụng thuật ngữ "nhiều nhất", "ít hơn", "ít nhất": Trò chơi "Câu ếch" (đếm số ếch câu được của 3 đội sau một bản nhạc, xếp thứ tự giảm dần), "Ném vòng" (đếm số vòng trúng đích vào 3 chai đặt ở cự ly quy định, xếp hạng 1, 2, 3 theo kết quả ném).
    • Kỹ năng chia nhóm đối tượng thành hai phần theo các cách khác nhau, gộp và đếm: Trò chơi "Chuyền thẻ" (với 10 que chuyền, trẻ nhận biết các cấu trúc tách - gộp như 1–9, 2–8, 3–7, 4–6, 5–5 làm cơ sở cho phép cộng, trừ), "Kéo co" (chia 10 trẻ thành các nhóm nhỏ hơn).
  • Quy trình tổ chức của giáo viên: Giáo viên giữ vai trò "điểm tựa", tổ chức theo 3 bước chuẩn: Giới thiệu trò chơi và phổ biến luật; Tiến hành quá trình chơi (bao quát, sửa sai, gợi ý); Nhận xét, củng cố kiến thức toán học sau khi chơi.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng trò chơi dân gian nhằm nâng cao hiệu quả hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5 – 6 tuổi

Chương 2 trình bày kết quả điều tra thực trạng tại trường Mẫu giáo Trùng Dương (xã Tam Tiến, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam):

  • Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: Nhà trường có 11 phòng học, 1 nhà bếp; trang thiết bị cơ bản đáp ứng Thông tư 34/2013/TT-BGDĐT. Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên là 30 người (22 giáo viên, trình độ đạt chuẩn 100%, trên chuẩn 80%). Toàn trường có 11 lớp với 335 trẻ, trong đó khối Lớn có 5 lớp gồm 165 trẻ. Chương trình hình thành biểu tượng số lượng được tích hợp trong 7 chủ đề lớn: Trường mầm non; Bác Hồ - Quê hương - Đất nước; Tết và mùa xuân; Thế giới thực vật; Thế giới động vật; Các hiện tượng tự nhiên; Trường tiểu học.
  • Nhận thức của giáo viên về trò chơi dân gian:
    • Về tầm quan trọng: 60% (6 giáo viên) đánh giá rất quan trọng, 30% (3 giáo viên) đánh giá quan trọng, 10% (1 giáo viên) cho rằng không quan trọng.
    • Về nguồn gốc: 80% (8 giáo viên) hiểu đúng do nhân dân sáng tạo và lưu truyền, 20% (2 giáo viên) cho rằng do một số tác giả cụ thể sáng tác.
    • Về tần suất sử dụng trong hình thành biểu tượng số lượng: Chỉ 10% (1 giáo viên) sử dụng rất thường xuyên, 40% (4 giáo viên) sử dụng thường xuyên, trong khi có tới 50% (5 giáo viên) không bao giờ sử dụng trong tiết toán.
    • Về mục đích sử dụng: 50% chỉ dùng nhằm mục đích gây hứng thú, 20% dùng củng cố ôn luyện, 20% dùng phát triển trí tuệ, và chỉ 10% khai thác nhằm mục đích hình thành kiến thức số lượng mới.
  • Cách thức và hình thức tổ chức trò chơi dân gian:
    • Việc lập kế hoạch sử dụng trò chơi dân gian cho môn toán: 60% giáo viên không bao giờ lập kế hoạch, 30% ít khi, 10% thỉnh thoảng, 0% thực hiện thường xuyên.
    • Tạo tình huống với vật liệu chơi: 50% ít khi, 50% không bao giờ thực hiện.
    • Môi trường tổ chức: 70% không bao giờ sử dụng trò chơi dân gian trên tiết học làm quen với toán (chỉ 10% dùng thường xuyên). Ngược lại, trò chơi dân gian tập trung chủ yếu ở giờ dạo chơi ngoài trời (50% thường xuyên, 50% thỉnh thoảng) và hoạt động tự do buổi chiều (20% thường xuyên, 70% thỉnh thoảng).
  • Mức độ hình thành biểu tượng số lượng của trẻ: Đánh giá trên 30 trẻ lớp Lớn 1 qua 4 bài tập (20 điểm tối đa) cho thấy tỷ lệ Giỏi chỉ đạt 13,3% (4 trẻ); Khá đạt 20,0% (6 trẻ); Trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất với 43,3% (13 trẻ); Yếu chiếm 20,0% (6 trẻ). Trẻ thao tác tốt với bài tập đếm xuôi nhưng yếu ở kỹ năng thêm bớt, phân chia tập hợp và xác định mối quan hệ số liền kề.

Chương 3: Đề xuất và thực nghiệm các cách thức sử dụng trò chơi dân gian nhằm nâng cao hiệu quả hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5 – 6 tuổi

Chương 3 xây dựng các giải pháp sư phạm và thiết kế mô hình thực nghiệm:

  • Bốn nguyên tắc đề xuất:
    1. Phải góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ nói chung và nội dung hình thành biểu tượng số lượng nói riêng (tránh lạm dụng trò chơi làm loãng nội dung toán học).
    2. Phù hợp với đặc điểm nhận thức về biểu tượng số lượng của trẻ 5 – 6 tuổi.
    3. Phát huy tính chủ động, tích cực hoạt động của trẻ.
    4. Phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của trường, lớp mầm non tại địa phương.
  • Cách thức triển khai:
    • Giữ nguyên các giá trị truyền thống, luật chơi và ý nghĩa nguyên bản của trò chơi dân gian.
    • Cải tiến, lồng ghép linh hoạt các nhiệm vụ toán học vào quy trình chơi (cải biên lời đồng dao chứa nhịp đếm, thay đổi số lượng dụng cụ chơi để tạo tình huống thêm bớt, linh hoạt chia nhóm cá nhân - tổ đội).
  • Thiết kế thực nghiệm sư phạm:
    • Đối tượng và địa bàn: Trẻ 5 – 6 tuổi tại trường Mẫu giáo Trùng Dương, phân chia thành 2 nhóm tương đương: Nhóm Thực nghiệm (TN) và Nhóm Đối chứng (ĐC).
    • Tiến trình thực nghiệm 3 giai đoạn: Khảo sát ban đầu đo mức độ nhận thức số lượng của cả hai nhóm; Thực nghiệm hình thành (nhóm TN được can thiệp bằng hệ thống trò chơi dân gian lồng ghép nội dung toán, nhóm ĐC học theo phương pháp truyền thống); Thực nghiệm kiểm chứng (đo lường kết quả sau can thiệp để so sánh đối chứng).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã lượng hóa rõ nét thực trạng nhận thức của giáo viên và kỹ năng toán học của trẻ mẫu giáo lớn tại trường Mẫu giáo Trùng Dương qua hệ thống dữ liệu khảo sát:

Tiêu chí khảo sát Phân loại / Mức độ Số lượng (người/trẻ) Tỷ lệ (%)
Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của TCDG (n=10) Rất quan trọng
Quan trọng
Không quan trọng
6
3
1
60,0%
30,0%
10,0%
Mục đích sử dụng TCDG của giáo viên (n=10) Gây hứng thú
Củng cố, ôn luyện kiến thức cũ
Phát triển năng lực trí tuệ
Hình thành biểu tượng số lượng mới
5
2
2
1
50,0%
20,0%
20,0%
10,0%
Tần suất dùng TCDG trên tiết học toán (n=10) Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờ
1
2
7
10,0%
20,0%
70,0%
Mức độ hình thành biểu tượng số lượng của trẻ (n=30) Giỏi (18 – 20 điểm)
Khá (14 – 17 điểm)
Trung bình (10 – 13 điểm)
Yếu (dưới 10 điểm)
4
6
13
6
13,3%
20,0%
43,3%
20,0%

Hệ thống giải pháp và cách thức tổ chức được tác giả đúc kết:

  • Xây dựng quy trình 3 bước chặt chẽ khi đưa trò chơi dân gian vào tiết học làm quen với toán.
  • Thiết kế các tình huống toán học hóa trò chơi dân gian quen thuộc (Kéo co, Cướp cờ, Ném còn, Câu ếch, Ném vòng, Chuyền thẻ) gắn chặt với 4 mạch kiến thức: xếp tương ứng 1:1, đếm và thêm bớt phạm vi 10, so sánh quan hệ 3 nhóm đối tượng, tách - gộp tập hợp.

Đóng góp của đề tài do tác giả công bố:

  • Về mặt lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bản chất, phân loại trò chơi dân gian và cơ chế tích hợp trò chơi dân gian vào việc phát triển biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non 5 – 6 tuổi.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp bức tranh thực trạng về việc dạy toán và sử dụng trò chơi dân gian tại địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam; đề xuất tài liệu hướng dẫn cụ thể giúp giáo viên mầm non khắc phục tính lúng túng, nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động làm quen với toán.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số giới hạn thực tế:

  • Hạn chế chủ quan: Đề tài được thực hiện trong thời gian ngắn (tháng 02 – 04/2016) trùng vào đợt thực tập tốt nghiệp; kinh nghiệm thực tế và năng lực nghiên cứu của sinh viên còn ở mức độ ban đầu.
  • Hạn chế về phạm vi mẫu: Mẫu khảo sát định lượng chỉ giới hạn ở 10 giáo viên và 30 trẻ thuộc một lớp duy nhất (lớp Lớn 1) tại một trường mầm non công lập thuộc địa bàn nông thôn ven biển (xã Tam Tiến, huyện Núi Thành, Quảng Nam), chưa bao quát được các cơ sở giáo dục mầm non đô thị hoặc miền núi.
  • Hướng mở rộng nghiên cứu:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm trên quy mô nhiều trường mầm non với các điều kiện cơ sở vật chất khác nhau.
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang việc khai thác trò chơi dân gian ở các hoạt động giáo dục ngoài tiết học (hoạt động góc, hoạt động dạo chơi ngoài trời, lễ hội mầm non).
    • Nghiên cứu ứng dụng trò chơi dân gian để hình thành toàn diện các biểu tượng toán sơ đẳng khác cho trẻ (biểu tượng về kích thước, hình dạng, định hướng không gian và định hướng thời gian).

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị ứng dụng rõ rệt đối với các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Tài liệu tham khảo hữu ích cho việc xây dựng khóa luận tốt nghiệp, tiểu luận môn Phương pháp hình thành biểu tượng toán sơ đẳng và rèn luyện kỹ năng thiết kế giáo án thực hành sư phạm.
  • Giáo viên mầm non trực tiếp dạy lớp mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi): Cung cấp ngân hàng trò chơi dân gian kèm hướng dẫn chuyển hóa luật chơi thành bài tập toán cụ thể (tương ứng 1:1, thêm bớt, chia nhóm 10 que chuyền thành các cặp số), giúp tiết học toán sinh động và giảm áp lực học tập cho trẻ.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn tại các trường mầm non: Căn cứ thực tiễn để đánh giá đúng thực trạng sử dụng trò chơi dân gian, từ đó xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, đầu tư đồ dùng đồ chơi tự tạo từ thiên nhiên theo danh mục thiết bị tối thiểu.

Câu hỏi thường gặp

1. Thực trạng nhận thức của giáo viên trường Mẫu giáo Trùng Dương về mục đích sử dụng trò chơi dân gian trong môn toán như thế nào?

Theo kết quả khảo sát 10 giáo viên tại Bảng 2.4, đa số giáo viên (50%) chỉ sử dụng trò chơi dân gian nhằm mục đích gây hứng thú ban đầu cho tiết học. Tỷ lệ giáo viên dùng để củng cố ôn luyện kiến thức là 20%, phát triển trí tuệ là 20%, và chỉ có 10% (1 giáo viên) nhận thức và sử dụng trò chơi dân gian nhằm mục đích trực tiếp hình thành biểu tượng số lượng mới cho trẻ.

2. Mức độ hình thành biểu tượng số lượng của trẻ 5 – 6 tuổi trước can thiệp thực nghiệm đạt kết quả ra sao?

Khảo sát 30 trẻ lớp Lớn 1 tại Bảng 2.8 cho thấy mức độ nhận thức số lượng của trẻ còn thấp: mức Giỏi chỉ đạt 13,3% (4 trẻ), mức Khá đạt 20,0% (6 trẻ), mức Trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất với 43,3% (13 trẻ) và mức Yếu chiếm 20,0% (6 trẻ). Trẻ thực hiện thuần thục phép đếm thông thường nhưng gặp khó khăn rõ rệt ở bài tập thêm bớt, phân chia một nhóm thành hai phần và xác định mối quan hệ của dãy số tự nhiên.

3. Tác giả đã cụ thể hóa việc lồng ghép trò chơi dân gian vào các nội dung dạy toán qua những trò chơi tiêu biểu nào?

Tác giả đã gắn 4 nội dung toán học với các trò chơi cụ thể:

  • Dạy xếp tương ứng 1:1 và so sánh hai nhóm đối tượng: Trò chơi "Kéo co", "Cướp cờ".
  • Dạy đếm phạm vi 10, thêm bớt biến đổi số lượng và nhận biết mặt số: Trò chơi "Ném còn", "Kéo co".
  • Dạy so sánh 3 nhóm đối tượng theo thứ tự tăng/giảm dần (nhiều nhất, ít hơn, ít nhất): Trò chơi "Câu ếch", "Ném vòng".
  • Dạy chia nhóm thành 2 phần theo nhiều cách và gộp đếm: Trò chơi "Chuyền thẻ" (phân tách 10 que chuyền theo các tổ hợp 1–9, 2–8, 3–7, 4–6, 5–5), trò chơi "Kéo co".

4. Những nguyên nhân chính nào khiến giáo viên ít sử dụng trò chơi dân gian trong tiết dạy toán?

Khóa luận chỉ ra hai nhóm nguyên nhân:

  • Nguyên nhân chủ quan: Giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về vai trò hình thành kiến thức của trò chơi dân gian; còn lúng túng trong việc lập kế hoạch, lựa chọn trò chơi phù hợp và tạo tình huống với vật liệu chơi; trẻ trong lớp đông và chưa tập trung chú ý cao.
  • Nguyên nhân khách quan: Cơ sở vật chất và không gian lớp học còn hạn chế; thời lượng tiết học hạn hẹp; thiếu nguồn tư liệu trò chơi được cải biên phù hợp với toán học; Ban giám hiệu nhà trường chưa có chỉ đạo và kiểm tra cụ thể về việc tích hợp trò chơi dân gian vào tiết dạy toán.

5. Quy trình tổ chức trò chơi dân gian trên tiết học làm quen với toán gồm những bước nào?

Tác giả chuẩn hóa quy trình sư phạm gồm 3 bước:

  • Bước 1: Giới thiệu trò chơi và phổ biến luật chơi (giáo viên phân nhóm phù hợp và cho trẻ vào vị trí).
  • Bước 2: Quá trình chơi (giáo viên quan sát, bao quát lớp, kịp thời sửa sai, tạo tình huống toán học để trẻ giải quyết; đổi vai chơi để đảm bảo tính công bằng).
  • Bước 3: Nhận xét sau khi chơi (giáo viên nhận xét, tuyên dương và tiến hành củng cố, khắc sâu kiến thức số lượng vừa hình thành).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Mỹ Lâm đã giải quyết một vấn đề sư phạm thiết thực trong chuyên ngành Giáo dục Mầm non, khẳng định vai trò quan trọng của trò chơi dân gian trong việc nâng cao hiệu quả hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5 – 6 tuổi. Thông qua các số liệu khảo sát thực trạng cụ thể tại trường Mẫu giáo Trùng Dương (huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam), công trình đã chỉ ra những khoảng trống trong nhận thức và phương pháp tổ chức tiết dạy toán của giáo viên. Hệ thống nguyên tắc và cách thức lồng ghép trò chơi dân gian do tác giả đề xuất mang tính khả thi cao, góp phần đổi mới phương pháp giáo dục mầm non theo hướng tích cực hóa hoạt động của trẻ.