Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VỀ MA TÚY 1. Những vấn đề lý luận chung về điều tra vụ án ma túy 1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của tội phạm về ma túy a) Khái niệm chất ma túy Hiện nay, trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nói chung quy định về “chất ma túy” rất nhiều. Tuy nhiên, khái niệm “chất ma túy” hiện đang được quy định ở 2 văn bản: + Luật phòng, chống ma túy năm 2000 (sửa đổi năm 2008) Điều 2 Luật phòng, chống ma túy quy định về khái niệm các chất ma túy như sau: “1.
Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng. Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng. Tiền chất là các hoá chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma tuý, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành.
Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quy định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành, có chứa các chất quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. Cây có chứa chất ma tuý bao gồm cây thuốc phiện (cây anh túc), cây cô ca, cây cần sa hoặc cây khác có chứa chất ma tuý do Chính phủ quy định”. Quy định này của Luật phòng, chống ma túy đã nêu rất cụ thể khái niệm về chất ma túy. Tuy nhiên, đó là những quy định chung, mang tính tổng 6 quát về chất ma túy, chất gây nghiện, chất hướng thần…, đồng thời, ủy quyền cho Chính phủ quy định cụ thể danh mục các chất này.
+ Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC- BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định của Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS 1999. Phần I Thông tư này quy định về “chất ma túy” như sau: “1. Về một số khái niệm 1. “Chất ma túy” là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành.
Trong đó, cần phân biệt các trường hợp sau: a) Đối với các chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch (như dung dịch thuốc phiện, dung dịch heroin dùng để tiêm, chích) hoặc chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng để tiện cho việc sử dụng thì không coi toàn bộ dung dịch này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng moocphin trong dung dịch để tính trọng lượng của chất ma túy đó; b) Đối với xái thuốc phiện thì không coi là nhựa thuốc phiện mà phải xác định hàm lượng moocphin trong xái thuốc phiện để tính trọng lượng của thuốc phiện”. Đồng thời, Mục 3.6 Phần II của Thông tư này cũng quy định: “3. Chất gây nghiện, chất hướng thần là chất ma túy; còn thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là để chữa bệnh (chỉ chứa một hàm lượng nhất định chất ma túy) và được quản lý theo quy chế quản lý dược phẩm của Bộ Y tế. Người nào không thuộc đối tượng quy định tại Điều 201 BLHS mà vi phạm trong việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần nhằm mục đích kinh doanh thuốc chữa bệnh hoặc để chữa bệnh thì bị xử lý hành chính hoặc thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm tương ứng khác không phải là tội phạm về ma túy (ví dụ: tội kinh doanh 7 trái phép, tội buôn lậu…).
Trường hợp sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần trái phép nhằm thỏa mãn nhu cầu về sử dụng trái phép chất ma túy cho mình hoặc cho người khác thì bị xử lý về tội phạm ma túy tương ứng (nếu thỏa mãn điều kiện về trọng lượng chất ma túy theo quy định của pháp luật). Người nào tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy với số lượng sau đây không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác thì áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS, theo đó không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hành chính: a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng dưới một gam; b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng dưới không phẩy một gam; c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng dưới một kilôgam; d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng dưới năm kilôgam; đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng dưới một kilôgam; e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng dưới một gam; g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ mười mililít trở xuống”. Với văn bản này, các nhà làm luật đã đưa ra khái niệm về “chất ma túy” chi tiết hơn để áp dụng khi giải quyết vụ án hình sự về ma túy. Cụ thể, Thông tư số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP đã nêu ra một số trường hợp như: xái thuốc phiện, chất ma túy ở thể rắn khi pha loãng… thì khi nào được coi là đối tượng thuộc sự điều chỉnh của pháp luật hình sự.
Hay đối với các chất ma túy thì chỉ xử lý hình sự khi đạt được trọng lượng nhất định… Và đáng lưu ý là Thông tư số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC- TANDTC-BTP đã chỉ ra điểm còn vướng mắc lâu nay trong thực tiễn, đó là khẳng định thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần không phải là ma túy (nếu để xử lý các hành vi mua bán thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần thì cần thêm 8 điều kiện là “nhằm thoản mãn nhu cầu về sử dụng trái phép chất ma túy cho mình hoặc cho người khác”). Nhìn chung, cả hai văn bản nêu trên đều đã đưa ra khái niệm giống nhau về “chất ma túy”: là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành [23, tr. Trong bản Danh mục chất ma túy ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ thì chất ma túy bao gồm nhiều loại chất gây nghiện, chất hướng thần khác nhau; mỗi loại có cấu tạo, thành phần, mức độ nguy hiểm khác nhau, từ đó các biện pháp quản lý, kiểm soát và xử lý đối với người vi phạm cũng khác nhau. Tuy nhiên, “chất ma túy” trong Luật phòng, chống ma túy không phải bao giờ cũng đồng nhất với “chất ma túy” trong Thông tư số 17/2007/TTLT- BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP.
Nói cách khác, “chất ma túy” trong Luật phòng, chống ma túy không phải bao giờ cũng là đối tượng điều chỉnh của pháp luật hình sự trong Chương VIII “Các tội phạm về ma túy” mà nó cần phải đủ các yếu tố nhất định như: trọng lượng, thể tích, nhân thân của người phạm tội… mới trở thành đối tượng tác động của loại tội phạm này. Còn “chất ma túy” trong Thông tư số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC- TANDTC-BTP được xây dựng nhằm làm căn cứ cho việc xác định, giải quyết các vụ án hình sự về ma túy. Nói cách khác, “chất ma túy” trong Thông tư số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP là “chất ma túy” thuộc sự điều chỉnh của pháp luật hình sự. b) Khái niệm tội phạm về ma túy Trong 3 Công ước quốc tế về phòng, chống và kiểm soát ma túy của Liên hợp quốc, tội phạm về ma túy được hiểu là “Illicit traffic”, có nghĩa là buôn bán bất hợp pháp.
Điều 1 Công ước về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và các chất hướng thần năm 1988, khái niệm “Buôn bán bất hợp pháp có nghĩa là 9 phạm tội theo các khoản 1, khoản 2 Điều 3 Công ước này” (gồm 11 nhóm hành vi). Khái niệm này bao hàm toàn bộ các hành vi liên quan đến ma túy, thể hiện thái độ đấu tranh chống tội phạm về ma túy đến cùng. Trong Luật về các biện pháp trấn áp người phạm tội liên quan đến ma túy ở Thái Lan năm 1991, khái niệm tội phạm về ma túy tại Điều 3 được hiểu là “Phạm tội liên quan đến ma túy”, tức là việc sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, tiêu thụ hoặc sở hữu để tiêu thụ các chất ma túy và cũng bao gồm cả âm mưu, giúp đỡ, khuyến khích, trợ giúp hoặc mưu hoạch thực hiện hành vi phạm tội đó. Trong Bộ luật hình sự và Luật phòng, chống ma túy của Việt Nam chưa có khái niệm tội phạm về ma túy.
Để nhận biết tội phạm về ma túy, trước hết phải xác định đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Các hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tổ chức, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy… đều gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy được quy định trong BLHS. Người được coi là tội phạm về ma túy phải là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và ý thức được hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra. c) Đặc điểm pháp lý của tội phạm về ma túy: Các tội phạm về ma túy là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XX của BLHS năm 2015, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một các cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước ta về các chất ma túy, các tiền chất để sản xuất chất ma túy và những hoạt động liên quan trực tiếp đến quá trình quản lý, sử dụng các chất ma túy và các tiền chất đó.
Cấu thành tội phạm của các tội phạm về ma túy được quy định như sau: - Khách thể của các tội phạm về ma túy Ma túy là loại độc dược gây nghiện cho người sử dụng. Con người chỉ cần sử dụng một vài lần chất ma túy hoặc chất hướng thần sẽ bị mắc nghiện, 10 có nhu cầu đòi hỏi thường xuyên với liều lượng ngày một nhiều hơn. Nếu không có ma túy đáp ứng kịp thời thì họ sẽ lên cơn vật vã, đau đơn về thể xã dẫn đến tình trạng mất ý chí và lý trí, có thể làm bất cứ thứ gì kể cả gây tội ác miễn là để thỏa mãn cơn nghiện của họ. Do xác định được tác hại nguy hiểm của ma túy nên tại Điều 61 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “… Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma túy khác.