Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm đầu tư công và đầu tư công từ vốn ngân sách Nhà nước 1. Lý luận cơ bản về đầu tư công và đầu tư công từ vốn ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm đầu tư công.
Theo nhiều quan điểm khác nhau, công tác đầu tư công được hiểu và định nghĩa khác nhau. Cụ thể như sau: Thứ nhất, theo quan điểm về tài chính công thì, đầu tư công là hoạt động đầu tư của chi tiêu công nhằm thúc đẩy năng lực sản xuất của nền kinh tế. Theo đó, đầu tư công là khoản chi tiêu công giúp làm tăng thêm tích lũy vốn vật chất. Tổng đầu tư công bao gồm: Đầu tư vào kết cấu hạ tầng vật chất do chính quyền Trung ương, chính quyền địa phương và các công ty thuộc khu vực công thực hiện.
Tuy nhiên, quan điểm này bộc lộ hạn chế, đó là: Không phải hoạt động chi tiêu công nào cũng có thể được coi là đầu tư công vì một trong những đặc trưng của đầu tư là khả năng “hoàn trả”. Theo UNCTAD (Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển - United Nations Conference on Trade and Development, hay Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc), đầu tư công được xác định là phần chi tiêu xây dựng cơ bản trong chi tiêu công. Nhưng UNCTAD cũng cho rằng: Nhiều hoạt động chi tiêu của Chính phủ nếu không được coi là chi đầu tư công thì sẽ dẫn đến thiếu sót trong đánh giá, nhất là chi cho các vấn đề phúc lợi xã hội như: Chi phí duy tu bảo dưỡng các công trình kết cấu hạ tầng, y tế, giáo dục, môi trường, an ninh trật tự…Vì vậy, nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm căn cứ vào sự phân định các khoản chi tiêu công thể hiện trong bảng cân đối kế toán gồm: Chi tiêu dùng Chính phủ và chi đầu tư để xác định đâu là đầu tư công và sử dụng số liệu đó để đánh giá, phân tích. Ngoài ra, thách thức trong việc xác định phạm vi của đầu tư công trở nên phức tạp hơn nhiều khi mà khu vực tư nhân tham gia vào cung cấp hàng hóa, dịch vụ công và tham gia vào các dự án đầu tư có sử dụng vốn từ ngân sách Nhà nước.
6 Thứ hai, theo quan điểm về sở hữu vốn, đầu tư công là đầu tư của Chính phủ và đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước. Theo đó, đầu tư công được coi là đầu tư của khu vực Nhà nước hay mọi hoạt động sử dụng nguồn lực của Nhà nước để đầu tư đều được coi là đầu tư công. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng không nên coi đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước là đầu tư công, vì đầu tư công là đầu tư của khu vực Nhà nước nhưng không nhằm mục đích kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận. Với quan niệm này, trở ngại nhất đó là làm sao phân tách được “tính chất phi lợi nhuận” trong tổng thể hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước.
Ngoài ra, quan điểm này bộc lộ một số hạn chế nếu coi đầu tư công là đầu tư của Chính phủ và đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước thì không giải thích được các dự án đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT có phải là đầu tư công hay không vì hiện nay đây là hình thức phổ biến trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội. Thứ ba, nguồn lực của Nhà nước luôn bị giới hạn trong khi nhu cầu đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội thì rất lớn, nếu chỉ sử dụng nguồn lực của Nhà nước để đầu tư công thì sẽ không đáp ứng được hết nhu cầu. Vì vậy, Nhà nước cần huy động, sử dụng nguồn lực từ xã hội, san sẻ đầu tư cho tư nhân để thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, quan điểm đầu tư công là đầu tư của Chính phủ và đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước không thể hiện được điều này.
Thứ tư, theo quan điểm về lý thuyết vô vị lợi, đầu tư công là đầu tư phát triển không vì mục tiêu lợi nhuận, hay nói cách khác, đầu tư công là đầu tư có tính phi lợi nhuận. Lý giải cho quan điểm này: Nhà nước được sinh ra để phục vụ các mục tiêu chung cho toàn xã hội, không phải thực hiện chức năng kinh doanh; hoạt động của Nhà nước được tài trợ bởi thuế và một số khoản thu khác nhưng không phải là do bán hàng hóa, dịch vụ theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, quan điểm này cũng bộc lộ một số hạn chế: - Thực tế nhiều hoạt động của Nhà nước không thể phân tách được là có tính lợi nhuận hay phi lợi nhuận. Điều này được thể hiện rõ đối với đầu tư của doanh 7 nghiệp Nhà nước và hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính vì có sự đan xen giữa mục tiêu chính trị và mục tiêu tài chính (lợi ích kinh tế, lợi nhuận).
- Theo quan điểm này thì đầu tư theo hình thức đối tác công – tư có phải là đầu tư công hay không thì không có cơ sở lý giải thỏa đáng. Thứ năm, quan điểm theo đối tượng thụ hưởng đầu tư và đầu ra của đầu tư, các hoạt động sản xuất ra hàng hóa công cộng gọi là đầu tư công. Tiếp cận theo góc độ này, hàng hóa công cộng là những hàng hóa mà việc tiêu dùng của người này không ngăn cản người khác tiêu dùng, với 2 thuộc tính cơ bản: Không có khả năng loại trừ và không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng. Chính vì 2 thuộc tính này mà khu vực kinh tế tư nhân không muốn cung cấp hoặc không thể cung cấp loại hàng hóa này.
Hàng hóa công cộng chia làm 2 loại: Hàng hóa công cộng thuần túy và hàng hóa công cộng không thuần túy. - Hàng hóa công cộng thuần túy: Là những hàng hóa có đủ 2 thuộc tính kể trên. Do không có khả năng loại trừ và luôn tồn tại đối tượng được hưởng lợi mà không phải đóng góp gì cho xã hội nên Chính phủ đảm nhiệm cung cấp, như: Quốc phòng an ninh. - Hàng hóa công cộng không thuần túy: Là hàng hóa công cộng chỉ có một trong hai thuộc tính (hoặc không có khả năng loại trừ hoặc không có tính cạnh tranh) hoặc có cả hai thuộc tính nêu trên nhưng trong một giới hạn nào đó.
Đối với hàng hóa công cộng không có tính loại trừ hoặc có khả năng loại trừ nhưng chi phí quá lớn sẽ được cung cấp công cộng và do Chính phủ đảm nhiệm. Đối với hàng hóa công cộng không có tính cạnh tranh nhưng có khả năng loại trừ (thông qua việc thu tiền) thì có thể cung cấp cá nhân và có thể được cung cấp bởi khu vực tư nhân hoặc khu vực tư nhân kết hợp với khu vực Nhà nước. Tiếp cận theo quan điểm này ta thấy đặc trưng chủ yếu của hàng hóa, dịch vụ công là hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội, cộng đồng. Việc tiến hành hoạt động cung cấp hàng hóa công có thể do Nhà nước trực tiếp đảm nhận, trao quyền cung cấp hàng hóa công cho các cá nhân hoặc Nhà nước tài trợ công cho khu vực tư để cung cấp hàng hóa công.
Hơn nữa, hoạt động đầu tư công là hoạt động đầu tư cung cấp hàng hóa công, 8 có thể do chủ thể Nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm dưới sự quản lý, hỗ trợ và định hướng của Nhà nước nhằm mục đích phục vụ lợi ích chung của xã hội, cộng đồng. Thứ sáu, theo quan điểm kết hợp giữa sở hữu vốn và tính vô vị lợi, đầu tư công là việc sử dụng vốn Nhà nước (bao gồm cả vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng của Nhà nước cho đầu tư và vốn của doanh nghiệp Nhà nước) để đầu tư vào các chương trình, dự án không vì mục tiêu lợi nhuận hoặc không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Theo Luật Đầu tư công năm 2019 của Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 13/06/2019) thì “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án và đối tượng đầu tư công khác theo quy định của Luật này. Tóm lại, các quan điểm trên đều chưa giải thích, làm rõ được một số vấn đề đó là: Đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước có gồm đầu tư công không? Đầu tư có sự tham gia, kết hợp giữa Nhà nước và khu vực tư nhân có phải là đầu tư công không? Thực tế, đầu tư công phải luôn gắn với chủ thể là Nhà nước, phục vụ chức năng chủ yếu của Nhà nước là cung cấp hàng hóa công cộng, thúc đẩy phát triển kinh tế và cải thiện phúc lợi xã hội và hướng tới mục tiêu vì lợi ích chung của toàn xã hội, nguồn lực và phương thức tổ chức thực hiện không chỉ bó hẹp trong phạm vi của khu vực Nhà nước và chỉ do Nhà nước thực hiện.
Có thể nói rằng, dù tiếp cận theo quan điểm nào thì đầu tư công đều hướng đến mục tiêu chung là đầu tư phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội, của cộng đồng. Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo, quản lý, điều tiết và giám sát các hoạt động đầu tư này. Từ sự phân tích đầu tư công theo 6 quan điểm trên, trong luận văn này, tác giả nhìn nhận khái niệm đầu tư công theo khía cạnh sau: “Đầu tư công là những hoạt động đầu tư nhằm phục vụ nhu cầu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, do Nhà nước chủ trì hoặc ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện, trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và các nguồn lực khác”. Với khái niệm này, vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trình, dự án đầu tư công được khẳng định.
Ngoài ra, khái niệm cũng bao hàm đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, đầu tư theo hình thức PPP, chỉ tiêu công cho các chương trình mục tiêu quốc 9 gia (có tính chất đầu tư) của đầu tư công, cũng như giải quyết được tính phi lợi nhuận (tính công cộng) của đầu tư công. Khái niệm đầu tư công từ vốn ngân sách Nhà nước Từ khái niệm đầu tư công, đầu tư công từ NSNN là các hoạt động đầu tư công có nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước Trung ương và ngân sách Nhà nước địa phương hay nói cách khác, đầu tư công từ vốn NSNN là hoạt động đầu tư công có nguồn vốn thực hiện lấy từ NSNN.