Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đặc biệt là sự kiện Việt Nam cùng 11 quốc gia vành đai Thái Bình Dương kết thúc đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương vào ngày 05 tháng 10 năm 2015, năng lực cạnh tranh công nghệ của doanh nghiệp trong nước trở thành bài toán sinh tồn. Hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 diễn ra đa dạng nhưng hiệu quả chưa đạt kỳ vọng. Phần lớn công nghệ du nhập qua dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nhập khẩu thiết bị chỉ dừng lại ở mức trung bình, thậm chí tiềm ẩn nguy cơ biến Việt Nam thành bãi thải công nghệ do thiếu năng lực thẩm định và làm chủ công nghệ nguồn.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi được đặt ra là làm thế nào để xây dựng các thiết chế phù hợp nhằm thúc đẩy các tổ chức khoa học và công nghệ Việt Nam chủ động tham gia mạng lưới nghiên cứu quốc tế, trực tiếp là Liên minh nghiên cứu toàn cầu, từ đó nâng cao chất lượng tiếp nhận công nghệ. Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về thiết chế và chuyển giao công nghệ, khảo sát thực trạng rào cản thể chế tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014, phân tích bài học kinh nghiệm từ Australia thông qua Tổ chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Liên bang và Chương trình Các Trung tâm hợp tác nghiên cứu, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thiết chế trong nước.

Về ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu đóng góp mô hình giải quyết mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước, khu vực nghiên cứu và khu vực doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu tạo tiền đề để Việt Nam tiếp cận mạng lưới hơn 60.000 nhà khoa học toàn cầu thuộc 09 tổ chức nghiên cứu hàng đầu thế giới, hướng tới mục tiêu gia tăng tỷ trọng chuyển giao công nghệ cao và giảm thiểu rủi ro kinh tế trong đàm phán thương mại quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết thiết chế xã hội của các học giả kinh điển như Fichter (1958) và Douglass North (1990), khẳng định thiết chế là tập hợp bền vững các quy tắc, chuẩn mực và giá trị định hình khuôn khổ tương tác xã hội. Trong lĩnh vực quản lý khoa học, thiết chế đóng vai trò luật chơi điều tiết mối quan hệ hợp tác và phân phối lợi ích giữa các chủ thể. Kết hợp với đó là khung lý thuyết chính sách khoa học và công nghệ theo quan điểm của UNESCO và cẩm nang Frascati của OECD (2002), xác định rõ tính độc lập tương đối nhưng gắn kết hữu cơ giữa hoạt động nghiên cứu phát triển và hoạt động chuyển giao công nghệ.

Nghiên cứu làm rõ 04 khái niệm trọng tâm bao gồm: thiết chế, chính sách khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ và Liên minh nghiên cứu toàn cầu. Chuyển giao công nghệ được tiếp cận toàn diện theo cả chiều dọc (từ viện nghiên cứu ra sản xuất) và chiều ngang (giữa các doanh nghiệp), phân cấp thành 04 cấp độ tiếp nhận: trao kiến thức, chìa khóa trao tay, sản phẩm trao tay và thị trường trao tay. Mô hình thiết chế trung gian gồm các xí nghiệp ươm tạo công nghệ, xí nghiệp vệ tinh của trường đại học như spin-off, spin-in, spin-out được xác lập làm cầu nối biến tri thức khoa học thành giá trị thương mại. Liên minh nghiên cứu toàn cầu thành lập năm 2000 tại Nam Phi được phân tích như một thiết chế hợp tác quốc tế đa phương giúp giải quyết các thách thức công nghệ quy mô lớn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích với tổng cỡ mẫu khảo sát và phỏng vấn sâu gồm 17 chuyên gia và nhà quản lý đại diện cho 03 nhóm chủ thể trọng yếu. Nhóm doanh nghiệp gồm 05 đại diện từ các đơn vị quy mô lớn và vừa như Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam, Tổng Công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội, Công ty TNHH Thương mại và Kỹ thuật Thịnh Khôi. Nhóm tổ chức nghiên cứu gồm 05 đại diện từ Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học và Tự động hóa, Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylo, Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công nghiệp. Nhóm quản lý nhà nước gồm 07 chuyên gia từ Vụ Hợp tác quốc tế, Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.

Lý do lựa chọn phương pháp phỏng vấn sâu kết hợp phân tích tài liệu thứ cấp là nhằm khai thác sâu các rào cản thể chế vi mô, kinh nghiệm thực tiễn đàm phán hợp đồng chuyển giao mà các bảng hỏi số lượng lớn khó bao quát hết. Dữ liệu văn bản pháp lý được thu thập từ hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật ban hành từ năm 1987 đến năm 2014. Quá trình phân tích so sánh đối chiếu kinh nghiệm của Australia được thực hiện trong mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2014, đảm bảo tính cập nhật và độ tin cậy khoa học cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống pháp luật về chuyển giao công nghệ tại Việt Nam tồn tại nhiều khoảng trống và thiếu tính đồng bộ. Mặc dù Luật Chuyển giao công nghệ 2006 cùng 08 văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo khung khổ pháp lý cơ bản, các quy định vẫn còn tản mạn tại nhiều ngành luật. Đáng chú ý, quy định miễn thuế thu nhập cho tổ chức, cá nhân góp vốn bằng bằng sáng chế tại Khoản 1 Điều 44 Luật Chuyển giao công nghệ 2006 bộc lộ nhiều kẽ hở lớn, tiềm ẩn nguy cơ thất thoát ngân sách nhà nước và tạo điều kiện cho doanh nghiệp nước ngoài chuyển giao công nghệ định giá ảo.

Thứ hai, dữ liệu phân tích từ hệ thống cơ sở dữ liệu sáng chế Vietnam DigiPat cho thấy năng lực tạo lập và làm chủ công nghệ nội địa còn rất hạn chế. Trong mẫu khảo sát 23 bằng độc quyền sáng chế được cấp thuộc 08 phân loại kỹ thuật khác nhau, có tới 6/23 sáng chế (chiếm tỷ lệ khoảng 26%) tập trung vào lĩnh vực chế biến sản phẩm từ đất sét và gốm sứ thuộc phân loại C04B 33/13, trong khi các lĩnh vực công nghệ cao và công nghệ nguồn gần như vắng bóng. Công nghệ chuyển giao từ nước ngoài thông qua các dự án FDI chủ yếu là phần cứng máy móc đi kèm, tỷ lệ công nghệ cao thực chất đạt dưới 10%.

Thứ ba, 100% đại diện doanh nghiệp và viện nghiên cứu được khảo sát đều chỉ ra rào cản lớn nhất nằm ở việc thiếu hụt thông tin công nghệ nguồn, thiếu tổ chức định giá trung gian độc lập và năng lực tiếp thu của nhân lực trong nước còn yếu. Đa số doanh nghiệp phải tiếp nhận công nghệ ở cấp độ thấp là trao kiến thức hoặc chìa khóa trao tay với chi phí đắt đỏ nhưng rủi ro vận hành rất cao.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên xuất phát từ sự đứt gãy giữa khâu nghiên cứu và khâu thương mại hóa. Tại Việt Nam, các mô hình xí nghiệp ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học chưa được pháp luật bảo vệ và khuyến khích rõ ràng. Hoạt động chuyển giao công nghệ đa phần diễn ra đơn lẻ, thiếu sự bảo trợ của các liên minh khoa học quốc tế.

So sánh với kinh nghiệm của Australia, quốc gia này đã tối ưu hóa hiệu quả chuyển giao nhờ mô hình Tổ chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Liên bang và Chương trình Các Trung tâm hợp tác nghiên cứu. Australia thành công trong việc kết nối đại học với khu vực công nghiệp, thương mại hóa sáng chế thông qua các công viên công nghệ và mạng lưới Liên minh nghiên cứu toàn cầu. Mạng lưới này quy tụ hơn 60.000 chuyên gia kỹ thuật, cung cấp các giải pháp công nghệ đa ngành với chi phí tối ưu. Dữ liệu nghiên cứu này có thể được biểu diễn trực quan qua bảng ma trận so sánh thể chế chuyển giao công nghệ giữa Việt Nam và Australia, hoặc biểu đồ cột phản ánh sự phân bố 04 cấp độ chuyển giao công nghệ để làm nổi bật khoảng cách năng lực làm chủ công nghệ giữa hai quốc gia.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và chính sách thuế. Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Tài chính tiến hành rà soát, sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ 2006, bãi bỏ quy định miễn thuế thiếu kiểm soát tại Khoản 1 Điều 44; bổ sung quy định chặt chẽ về điều kiện giải mã công nghệ thương mại nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; mục tiêu giảm 100% các trường hợp gian lận thuế qua định giá ảo công nghệ giai đoạn 2016 - 2018.

Thứ hai, thiết lập thiết chế tham gia Liên minh nghiên cứu toàn cầu tại Việt Nam. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì thành lập Văn phòng điều phối kết nối với 09 tổ chức nghiên cứu quốc tế thuộc Liên minh nghiên cứu toàn cầu như CSIRO của Australia và Fraunhofer của Đức; phấn đấu gia tăng 30% đến 40% số lượng dự án nghiên cứu chuyển giao công nghệ có sự bảo trợ quốc tế trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ ba, xây dựng và nhân rộng mô hình ươm tạo công nghệ trung gian. Nhà nước ban hành cơ chế tài chính đặc thù hỗ trợ thành lập các doanh nghiệp spin-off, spin-out tại các trường đại học lớn; đặt mục tiêu 100% các viện nghiên cứu chuyên ngành thành lập bộ phận xúc tiến chuyển giao công nghệ chuyên nghiệp trước năm 2020.

Thứ tư, phát triển hạ tầng dữ liệu và tổ chức thẩm định giá công nghệ. Thiết lập cổng thông tin quốc gia về công nghệ nguồn, đào tạo đội ngũ chuyên gia môi giới chuyển giao công nghệ đạt chuẩn quốc tế; hướng tới nâng tỷ trọng đóng góp của công nghệ có bản quyền sáng chế lên trên 25% tổng giá trị hợp đồng chuyển giao công nghệ đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Sử dụng luận văn làm cơ sở lý luận và thực tiễn để sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ, xây dựng cơ chế quản lý các dự án FDI công nghệ cao và phòng ngừa nhập khẩu thiết bị lạc hậu.

Thứ hai, ban giám đốc các viện nghiên cứu, trường đại học kỹ thuật: Tham khảo mô hình quản trị của CSIRO và các Trung tâm hợp tác nghiên cứu của Australia nhằm thiết lập mô hình doanh nghiệp khoa học vệ tinh, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và đăng ký bảo hộ sáng chế quốc tế.

Thứ ba, lãnh đạo doanh nghiệp và giám đốc công nghệ: Vận dụng 04 cấp độ chuyển giao công nghệ để lựa chọn phương thức đàm phán hợp đồng tối ưu, giảm thiểu rủi ro khi nhập khẩu dây chuyền sản xuất từ nước ngoài.

Thứ tư, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản trị Đổi mới sáng tạo: Khai thác khung lý thuyết thiết chế và phương pháp phân tích so sánh quốc tế để phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về thị trường công nghệ.

Câu hỏi thường gặp

Việc tham gia Liên minh nghiên cứu toàn cầu đem lại lợi ích trực tiếp nào cho Việt Nam? Tham gia mạng lưới này giúp Việt Nam tiếp cận trực tiếp với hơn 60.000 nhà khoa học hàng đầu thuộc 09 tổ chức nghiên cứu ứng dụng thế giới. Cơ chế hợp tác đa phương giúp các doanh nghiệp trong nước tìm kiếm được công nghệ nguồn phù hợp với chi phí thấp nhất, hạn chế tối đa rủi ro mua phải công nghệ lạc hậu.

Tại sao luận văn đề xuất bãi bỏ Khoản 1 Điều 44 Luật Chuyển giao công nghệ 2006? Quy định miễn thuế thu nhập tuyệt đối cho hoạt động góp vốn bằng sáng chế dễ bị các tập đoàn nước ngoài lợi dụng để chuyển giá hoặc định giá khống công nghệ. Điển hình như các sáng chế giá trị hàng tỷ USD nếu được góp vốn mà không qua thẩm định chặt chẽ sẽ gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước.

Bốn cấp độ chuyển giao công nghệ khác nhau như thế nào về mức độ rủi ro? Bốn cấp độ gồm: trao kiến thức, chìa khóa trao tay, sản phẩm trao tay và thị trường trao tay. Rủi ro giảm dần từ cấp độ một đến cấp độ bốn. Cấp độ thị trường trao tay là an toàn nhất cho bên nhận vì bên giao phải cam kết cả về khả năng vận hành, chất lượng sản phẩm và thị trường tiêu thụ.

Mô hình chuyển giao công nghệ nào của Australia phù hợp nhất để Việt Nam học tập? Mô hình Chương trình Các Trung tâm hợp tác nghiên cứu và Tổ chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Liên bang là phù hợp nhất. Mô hình này giải quyết triệt để bài toán liên kết ba bên, gắn kết chặt chẽ tài chính của Nhà nước, năng lực của viện nghiên cứu và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

Sự khác biệt căn bản giữa ươm tạo công nghệ và ươm tạo doanh nghiệp là gì? Ươm tạo công nghệ là giai đoạn hoàn thiện giải pháp kỹ thuật từ phòng thí nghiệm ra sản xuất thử nghiệm ở quy mô nhỏ. Trong khi đó, ươm tạo doanh nghiệp là quá trình hỗ trợ pháp lý, tài chính và kỹ năng quản trị để biến một ý tưởng công nghệ thành một tổ chức kinh doanh độc lập trên thị trường.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Đặng Thị Việt Hương đã đóng góp một hệ thống luận cứ khoa học vững chắc về quản lý khoa học và công nghệ:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thiết chế, chính sách và 04 cấp độ chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam.
  • Chỉ rõ các bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành với hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật và hạn chế về cơ cấu sáng chế tại Việt Nam.
  • Phân tích sâu sắc bài học kinh nghiệm từ Australia trong việc vận hành các trung tâm nghiên cứu hợp tác và khai thác mạng lưới Liên minh nghiên cứu toàn cầu.
  • Đề xuất 04 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, phân định rõ chủ thể thực hiện, chỉ tiêu đo lường và lộ trình triển khai cụ thể đến năm 2025.
  • Mở ra định hướng phát triển thị trường khoa học công nghệ minh bạch, thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam hội nhập thành công vào nền kinh tế tri thức toàn cầu.