Chương 1. Cơ sở lý luận của Luận văn. Tác động của chính sách KH&CN đến bảo hộ sở hữu công nghiệp. Tác động của bảo hộ sở hữu công nghiệp đến chính sách KH&CN.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 1. Cơ sở lý luận về chính sách 1. Khai niệm chính sách Có nhiều cách tiếp cận dé xem xét khái niệm chính sách, trong đó có: tiếp cận chính tri học, tiếp cận chính trỊ học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tông hợp. [4;1 I] Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây: - Chính sách là tập hợp những bién pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thé quản ly đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định có giá tri pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi.
- Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thé quyên lực hoặc chủ thé quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau. Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó. - Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thé quyền lực hoặc chủ thé quan lý đưa ra. - Chính sách luôn tao ra một bat bình dang xã hội, rất có thé, đồng thời khắc phục một bất bình đăng xã hội đang tôn tại, rất có thé khoét sâu thêm những bất bình đăng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội).
' Tham khảo từ: Vũ Cao Dam (2011), Giáo trình Khoa học chính sách, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 13 - Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một đòn ung phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thé quyền lực hoặc chủ thé quan lý. Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thé đưa ra định nghĩa: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thé chế hoá, mà một chủ thể quyén lực, hoặc chủ thể quan ly dua ra, trong đó tạo sự uu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.” Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau: - Chính sách là một áp hợp biện pháp. Do có thé là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội.
- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dang các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tô chức (doanh nghiệp, trường học.) - Chính sách phải tac động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội. Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó. Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh té,. Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu.
Đó là cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách. - Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiếu nào đó của hệ thong xã hội. Chăng hạn, mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nha trường, mục tiêu phat triển của một dia phương, mục tiêu bảo vệ Tô quôc cua một quôc gia. 14 Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau: - Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng pho trong một cuộc chơi.
Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thê quản lý luôn thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không d6n đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau. - Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tổ bat dong bộ nào đó trong hệ thông, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu to bat dong bộ mới. Như vậy, quá trình làm chính sách thực chat là tao ra những bước phát triển hệ thống, tr những bat dong bộ này tới những bat dong bộ khác. Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo tưởng sự đồng bộ én định tuyệt đối.
ôn định, có nghĩa là không còn phát trién. - Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thé chính sách vạch ra. Khái niệm “Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung lap, co thé là một biến đôi “tốt đẹp” theo một nghĩa nao đó, nhưng lại là “tồi 2 As 66. tệ” theo một nghĩa nào đó.
Định nghĩa của Luận văn Từ những quan niệm trên đây về chính sách, Luận văn sử dụng định nghĩa chính sách: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành, trong đó tạo sự uu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động cua họ, định hướng hoạt động cua họ nhằm thực hiện một/một nhóm mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển chung của xã hội.` Thuật ngữ “Nhà nước” trong định nghĩa trên đây được hiểu là: 15 - Cơ quan quyền lực nhà nước, bao gồm: Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp; - Cơ quan hành chính nhà nước, bao gồm: Chính phủ, Ủy ban Nhân dân các cấp; - Cơ quan tư pháp: Tòa án Nhân dân tối cao. Trong Luận văn này không khảo sát các văn bản của các cấp tòa án địa phương, Viện Kiểm sát Nhân dân các cấp. Tác động của chính sách? - Tác động dương tính cua chính sách: tác động dương tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách. Tác động dương tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muôn đạt tới.
Tuy nhiên, sau khi công bố một chính sách, không phải khi nào cũng chỉ có tác động dương tính, mà còn có tác động âm tính. Tác động âm tính xuất hiện là một tất yếu khách quan, hơn nữa, tác động âm tính chính là cơ sở để suy xét ban hành những chính sách ngày càng có vai trò tích cực hơn trong quá trình phát triển xã hội. Vấn đề là chủ thể chính sách cần nhận diện đúng các tác động này dé không ngừng hoàn thiện chính sách. - Tác động âm tính của chính sách: tác động âm tính cua một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại với mục tiêu của chính sách.
- Tác động ngoại biên của chính sách: tác động ngoại biên của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả năm ngoai dự liệu của co quan quyết định của chính sách. Trong tác động ngoại biên, người ta lại có thể thấy xuất hiện tác động ngoại biên dương tính và tác động ngoại biên âm tính. Tác động ngoại biên dương tinh, là tac đông ngoại biên góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách. ? Tham khảo từ: Vũ Cao Đàm (2011), sdd 16 Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dân tới giảm thiêu hiệu quả của chính sách.
Chuỗi tác động của chính sách Một chính sách có thé làm xuất hiện một chuỗi tác động kế tục nhau. Các tác động này có thé dương tính, âm tính, ngoại biên. Chính day là nguyên nhân dẫn đến những tình huống phức tạp khi cân nhắc để quyết định một chính sách. - Tác động trực tiếp của chính sách: tác động trực tiếp hiện ngay sau khi chính sách được công bố.
Tác động trực tiếp có thé là dương tính, âm tính, ngoại biên. - Tác động nồi tiép cua chính sách: tác động nôi tiêp diễn ra sau tac động trực tiép. Tác động nôi tiép có thê xuât hiện sau tác động trực tiêp một vai năm, cũng có thê nhanh hơn hoặc chậm hon. Tác động nôi tiêp cũng có thé là đương tính, âm tính, ngoại biên.
- Tác động kế tiếp của chính sách: tác động kế tiếp diễn ra sau tác động nối tiếp. Tác động kế tiếp có thê xuất hiện sau tác động nối tiếp một vài năm, cũng có thé nhanh hơn hoặc chậm hon. Tac động kế tiếp cũng có thé là đương tính, âm tính, ngoại biên. - Tác động gián tiếp của chính sách: Tác động gián tiếp diễn ra sau tác động kế tiếp, cũng bao gồm: gián tiếp dương tính, gián tiếp âm tính, gián tiếp ngoại biên.
Chính sách khoa học và công nghệ 1. Khai niệm chính sách khoa học và công nghệ Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đưa ra định nghĩa: “Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực thi nhằm nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia với mục tiêu đạt phát triển quốc gia va nâng cao vị thé quốc gia trên thé gió. 17 Như vậy, theo định nghĩa nay thì chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thé hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN.