phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề chung về hiệu quả chi tiêu công cho Chƣơng trình XĐGN. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế Luận văn. Chƣơng 3: Thực trạng hiệu quả chi tiêu công cho Chƣơng trình XĐGN tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2015. Chƣơng 4: Định hƣớng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả chi tiêu công cho Chƣơng trình XĐGN tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016-2020.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CHI TIÊU CÔNG CHO CHƢƠNG TRÌNH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu liên quan tới hiệu quả chi tiêu công (1) Luận án Tiến sĩ của Bùi Mạnh Cƣờng (2012) về “Nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN ở Việt Nam” đã đánh giá quy mô đầu tƣ phát triển từ nguồn vốn NSNN trong giai đoạn 2005-2010 tăng nhanh theo hàng năm. Đầu tƣ phát triển từ nguồn vốn NSNN có xu hƣớng giảm dần từ 2005-2010 nhƣng luôn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng vốn đầu tƣ phát triển toàn xã hội.
Đầu tƣ phát triển từ nguồn vốn NSNN trong việc giảm hộ nghèo ở nông thôn có hiệu quả tăng, tuy nhiên, nếu để tỷ lệ đầu tƣ phát triển từ nguồn vốn NSNN cho khu vực này cao thì sẽ ảnh hƣởng đến tăng trƣởng chung và Nhà nƣớc thiếu nguồn lực để tái đầu tƣ. Do đó, Nhà nƣớc phải khuyến khích các lực lƣợng khác nhau cùng tham gia chung tay để giải quyết vấn đề XĐGN. Qua một số chỉ tiêu cho thấy, chi tiêu NSNN có khuynh hƣớng thay đổi khi đầu tƣ phát triển từ NSNN tập trung nhiều hơn cho phúc lợi xã hội (giáo dục, y tế, nhà ở, an sinh xã hội,…). Đầu tƣ phát triển từ NSNN để đảm bảo các dịch vụ công thiết yếu cho nhân dân nhƣ phổ cập giáo dục, khám chữa bệnh thông thƣờng, hỗ trợ cho ngƣời nghèo và các nhóm yếu thế trong xã hội v.
với quy mô ngày càng mở rộng và chất lƣợng nâng cao hơn, nhằm phân phối lại của cải xã hội, đảm bảo cơ hội bình đẳng cho mọi ngƣời, hỗ trợ nhóm ngƣời thiệt thòi, tạo điều kiện đảm bảo điều kiện sống tối thiểu, nâng cao chất lƣợng cuộc sống. (2) Trong Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Hải (2008) với đề tài về “Hoàn thiện cơ chế quản lý chi NSNN cho việc cung ứng hàng hóa công cộng ở Việt Nam”, các phân tích, đánh giá của tác giả đã thể hiện cái nhìn tổng thể về tình hình sử dụng NSNN cho việc cung ứng hàng hóa công cộng và cơ chế quản lý các khoản chi này ở Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi vừa qua. Nghiên cứu cho thấy, cơ chế quản lý chi NSNN cho việc cung ứng hàng hóa công cộng hiện nay còn nhiều vấn 5 đề bất cập do nhiều nguyên nhân, nhƣng chủ yếu là do thu nhập bình quân đầu ngƣời của Việt Nam còn thấp, tƣ tƣởng Nhà nƣớc bao cấp còn nặng nề, việc quản lý tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hàng hóa công cộng chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Vai trò điều tiết của Nhà nƣớc và vai trò điều chỉnh của cơ chế thị trƣờng chƣa có sự kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau một cách có hiệu quả, dẫn tới sự hạn chế trong việc sử dụng hiệu quả NSNN cho việc cung ứng hàng hóa công cộng.
Nghiên cứu đã đóng góp các giải pháp về hoàn thiện cơ chế quản lý chi NSNN cho việc cung ứng hàng hóa công cộng và trình bày một số điều kiện để thực hiện các giải pháp nhƣ: Nhà nƣớc cần xây dựng ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến điều chỉnh các hoạt động chi NSNN cho việc cung ứng hàng hóa công cộng; đổi mới, sắp xếp hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập trung ƣơng và địa phƣơng quản lý; hoàn thiện bộ máy quản lý cung ứng hàng hóa công cộng, tăng cƣờng đào tạo cán bộ quản lý hàng hóa công cộng; tăng cƣờng ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý… (3) Luận án Tiến sĩ của Võ Văn Hợp (2013) về “Nâng cao tính bền vững của Ngân sách Nhà nước”, nghiên cứu đã cung cấp một cách nhìn khá toàn diện về thực trạng tính bền vững của NSNN Việt Nam trong giai đoạn II001-2010 thông qua việc phân tích diễn biến các yếu tố ảnh hƣởng đến tính bền vững của NSNN, cụ thể giai đoạn 2006-2010 tuy đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng trong bối cảnh tình hình kinh tế, xã hội trong và ngoài nƣớc có những diễn biến bất lợi cho việc điều hành, quản lý NSNN, song xét về lâu dài, hoạt động NSNN tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro, đe dọa đến tính bền vững của NSNN. Bởi tỷ trọng thu nội địa còn hạn chế, thất thu còn lớn, bố trí cơ cấu chi NSNN còn bất hợp lý, hiệu quả đầu tƣ công thấp, thất thoát lãng phí nguồn lực của NSNN. Nợ công tuy đƣợc đánh giá ở mức an toàn, nhƣng còn chƣa nhiều rủi ro do sự biến động của tỷ giá, do nguồn dự trữ ngoại tệ còn mỏng, do cơ cấu chƣa hợp lý, nợ nƣớc ngoài đang có chiều hƣớng gia tăng, công tác quản lý, sử dụng nợ công còn nhiều bất cập. Từ đó đặt ra những vấn đề quản lý điều hành NSNN đối với Nhà nƣớc nói chung và các cơ quan quản lý NSNN nói riêng.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và dự báo tính bền vững của 6 NSNN trong giai đoạn 2011-2020, tác giả đã đề xuất các giải pháp về thu, chi NSNN, về nợ công, về quản lý NSNN hƣớng tới đảm bảo tính bền vững của NSNN trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam bƣớc sang một giai đoạn mới, phát triển theo chiều sâu với nhiều chỉ tiêu quan trọng đã đƣợc Quốc hội thông qua. (4) Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Đăng Bình (2012), “Đầu tư phát triển theo hướng tăng trưởng nhanh gắn với giảm nghèo tại Việt Nam trong thời kỳ đến năm 2020”, đã phân tích thực trạng và cho thấy việc đầu tƣ phát triển theo mục tiêu tăng trƣởng nhanh và giảm nghèo tuy thu đƣợc những kết quả nhất định trong thời gian qua nhƣng hiệu quả và tính bền vững chƣa cao, còn nhiều yếu kém, hạn chế, nhất là trong các mối quan hệ giữa chúng. Các điều kiện đảm bảo cho đầu tƣ phát triển theo hƣớng tăng trƣởng nhanh gắn với giảm nghèo bền vững chƣa đầy đủ, đồng bộ. Muốn đầu tƣ đảm bảo tăng trƣởng nhanh gắn với giảm nghèo một cách bền vững thì phải đầu tƣ đúng để phát huy lợi thế so sánh quốc gia, đầu tƣ có hiệu quả kết hợp với sự quản lý, điều hành có hiệu lực, hiệu quả của Nhà nƣớc, đồng thời ngƣời dân có tinh thần phát triển và phát triển có trách nhiệm cao.
Trên những cơ sở phân tích, tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp để hiện thực hóa định hƣớng đầu tƣ phát triển đến năm 2020, gồm: (i) Xây dựng chiến lƣợc đầu tƣ với các bƣớc đi thích hợp theo hƣớng hiện đại hóa cơ cấu ngành nghề và nâng cao hiệu suất sử dụng vốn đầu tƣ; (ii) Nâng cao trình độ quản trị quốc gia để hiện thực hóa chiến lƣợc đầu tƣ gắn với đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện chính sách phân phối thu nhập và các chính sách khác liên quan đến giảm nghèo; (iii) Phát triển các doanh nghiệp năng động, sáng tạo, làm ăn có hiệu quả, không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh; (iv) Phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu đầu tƣ theo hƣớng tăng trƣởng nhanh gắn với giảm nghèo bền vững; (v) Tăng cƣờng hợp tác quốc tế trong đầu tƣ và thƣơng mại. Các công trình nghiên cứu liên quan tới xóa đói giảm nghèo (1) Bài nghiên cứu của Nguyễn Phan Yến Phƣơng (2015) về “Tài chính vi mô – giải pháp góp phần XĐGN tại Việt Nam”, qua các kết quả phân tích, tác giả nhận định tài chính vi mô là một trong những giải pháp hữu hiệu trợ giúp về vốn cho ngƣời nghèo, ngƣời có thu nhập thấp để giải quyết các khó khăn về tài chính, 7 tránh đƣợc tình trạng ngƣời nghèo phải đi vay theo hình thức cầm đồ, tín dụng đen với lãi suất cao, qua đó hạn chế đƣợc tệ nạn cho vay nặng lãi ở nhiều vùng thôn quê, góp phần cải thiện cuộc sống của ngƣời nghèo, ngƣời thu nhập thấp. Tuy nhiên, số tổ chức tài chính vi mô hiện còn khiêm tốn, chỉ có 3 trong số hơn 300 tổ chức lớn nhỏ trên toàn quốc đƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc cấp phép. Đồng thời mạng lƣới hoạt động chủ yếu của các tổ chức tài chính vi mô chính thức chỉ tập trung ở một số địa phƣơng nhất định.
Nghiên cứu cho thấy, khu vực miền Trung – Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông Cửu Long, là những địa bàn còn bỏ ngỏ của các tổ chức tài chính vi mô, trong khi đó, những khu vực này lại có tỷ lệ ngƣời nghèo, ngƣời có thu nhập thấp tƣơng đối cao so với các vùng miền khác của cả nƣớc. Tác giả đã xác định các nguyên nhân khiến cho các tổ chức tài chính vi mô chƣa thể mở rộng đƣợc phạm vi và quy mô hoạt động, qua đó đề xuất các giải pháp cụ thể để góp phần mở rộng hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô nhƣ hoàn thiện khung pháp lý, tạo điều kiện liên kết các tổ chức tín dụng với các tổ chức tài chính vi mô; có chính sách khuyến khích các tổ chức tài chính vi mô phát triển, đa dạng hóa các loại hình sản phẩm, dịch vụ; hỗ trợ về vốn, miễn giảm thuế và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc; hỗ trợ nâng cao hình ảnh uy tín, gia tăng xếp hạng tín nhiệm để góp phần giúp các tổ chức tài chính vi mô tiếp cận dễ hơn với các nguồn vốn ƣu đãi… (2) Báo cáo Tác động của Chƣơng trình 135 giai đoạn II qua lăng kinh hai cuộc điều tra đầu kỳ và cuối kỳ của UNDP (2012) đã đƣa ra một số kết luận và gợi ý chính sách nhƣ sau: Thứ nhất, việc phân bổ vốn giữa các xã thuộc CT 135-II và các xã khác không thực sự khác biệt. Do chính quyền địa phƣơng tái phân bổ các nguồn vốn ngoài CT 135-II từ các xã thuộc CT 135-II cho các xã không thuộc Chƣơng trình nhằm mục đích bù đắp đã khiến cho tác động của Chƣơng trình có thể bị đánh giá thấp hơn so với tác động thực.