Chương I TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM Hệ thống pháp luật Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật, các T 0 T 0 T 0 T5 0 T 5 nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật có mối liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau, được phân định thành các ngành luật, các chế định pháp T 0 T5 0 T 5 T 0 T5 0 luật và được thể hiện trong các văn bản do cơ quan Nhà nước Việt Nam có T0 5 T 0 T 0 T5 0 T0 5 T5 0 T0 5 T 0 thẩm quyền ban hành theo những hình thức, thủ tục nhất định. Việc gọi tên hệ thống pháp luật có nhiều quan điểm khác nhau, trong đó, có quan điểm cho rằng, hệ thống pháp luật bao gồm hai bộ phận là công T 0 T5 0 pháp và tư pháp, quan điểm khác cho rằng cần phải phân biệt hai khái niệm: T0 5 T 0 T 0 T5 0 T 5 Hệ thống pháp luật và hệ thống pháp luật thực định và quan điểm chỉ có một khái niệm hệ thống pháp luật, không thể phân biệt rõ nét hai khái niệm hệ thống pháp luật và hệ thống pháp luật thực định. Theo quan điểm này, hệ thống pháp luật có nội dung rất rộng, bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành và những nguồn khác nữa của pháp luật tồn tại trên thực tế mà dựa trên cơ sở đó tính hiện thực của pháp luật đựơc bảo đảm và pháp luật phát huy hiệu lực. Theo quan điểm này hệ thống pháp luật là một khái niệm chung bao gồm hai mặt cụ thể là: Hệ thống cấu trúc của pháp luật và hệ thống văn bản pháp luật (hệ thống nguồn của pháp luật).
Để nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước và trách nhiệm của chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân trong việc bảo vệ môi trường nhằm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước, góp phần bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; Học viên: Mai Thị Quyên CH17KT Luận văn thạc sĩ 5 Ngành: Kinh tế TNTN&MT Việc bảo vệ môi trường được quy định bởi Luật môi trường (ban hành năm 1993 và được thay thế bởi Luật Bảo vệ môi trường năm 2005). Luật này quy định về hoạt động bảo vệ môi trường, chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo vệ môi trường. Bên cạnh Luật Bảo vệ môi trường, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường còn có các đạo luật, pháp lệnh về tài nguyên như: Luật tài nguyên nước năm 1998, luật dầu khí năm 1993 (được sửa đổi bổ sung năm 2000), luật đất đai năm 2003, luật thủy sản năm 2003, luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, luật khoáng sản năm 1996 (được bổ sung sửa đổi năm 2005). Nghĩa vụ về bảo vệ môi trường đối với các tổ chức, cá nhân còn nằm rải rác trong nhiều đạo luật khác, trong đó phải kể đến: - Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam - Luật hình sự - Luật trách nhiệm dân sự - Luật hợp đồng.
LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, được Quốc hội Việt Nam khoá XI trong T 0 T5 0 T0 5 T 0 kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực vào T 0 T5 0 T0 5 T 0 T 0 T5 0 T0 5 T 0 ngày 01 tháng 7 năm 2006, là luật quy định về quyền tác giả, quyền liên quan T 0 T5 0 T0 5 T 0 T 0 T5 0 T 5 T 0 T5 0 T0 5 T 0 T 5 T 5 T 0 T5 0 đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây T 5 T 0 T5 0 T 5 T 0 T5 0 trồng và việc bảo hộ các quyền đó. T0 5 T 0 T 0 T5 0 T0 5 T 0 Học viên: Mai Thị Quyên CH17KT Luận văn thạc sĩ 6 Ngành: Kinh tế TNTN&MT 1. Quyền sở hữu trí tuệ: quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí T 5 T 5 T 0 T5 0 tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, T 5 quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Quyền tác giả: quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do T 5 T 5 T 0 T5 0 T0 5 T 0 mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Quyền liên quan đến quyền tác giả: quyền của tổ chức, cá nhân đối T 5 T 5 với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát T 0 T5 0 T 5 T 0 T5 0 T 5 T 0 T5 0 T 5 T 0 T5 0 sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Quyền sở hữu công nghiệp: quyền của tổ chức, cá nhân đối T 5 T 5 với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp T 0 T5 0 T 5 T 0 T5 0 T 5 T 0 T5 0 bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh T 5 T 0 T5 0 T 5 T 0 T5 0 T 5 T 0 T5 0 T 5 T 0 T5 0 doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh T0 5 T 0 T 0 T5 0 không lành mạnh. Quyền đối với giống cây trồng: quyền của tổ chức, cá nhân đối với T 5 T 5 giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát T 0 T5 0 T0 5 T 0 T 0 T5 0 T0 5 T 0 T 0 T5 0 triển hoặc được hưởng quyền sở hữu. Tên thương mại: tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động T 5 T 5 kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với T 0 T5 0 T0 5 T 0 chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực.
LUẬT HÌNH SỰ Khái niệm luật hình sự nói về những luật có chung tính chất là xác định T 0 T 0 T 0 T 0 những hành vi (tội) mà xã hội đó không muốn xảy ra, và đề ra những hình T 0 T 0 T 0 T 0 T 0 T 0 phạt riêng biệt và nặng nề hơn bình thường nếu thành viên xã hội đó phạm T 0 T 0 vào. Tùy theo loại tội và thẩm quyền, sự trừng phạt (về mặt) hình sự bao gồm tử hình, giam giữ, bị quản thúc hoặc bị phạt vạ. Những tội cổ xưa như sát Học viên: Mai Thị Quyên CH17KT Luận văn thạc sĩ 7 Ngành: Kinh tế TNTN&MT nhân (giết người), phản quốc. luật hình sự nơi nào cũng có.
Nhưng cũng có nhiều tội ở nước này đưa vào luật hình sự mà nước khác thì không. Ngay cả trong các bộ luật đôi khi cũng không rõ ràng về ranh giới giữa dân sự và hình sự. Luật hình sự thường được tiến hành khởi tố bởi chính quyền, không giống như luật dân sự thường được tiến hành khởi tố bởi người dân hay các pháp nhân khác. LUẬT TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ Luật trách nhiệm dân sự là một nhánh pháp luật giải quyết các tranh T 0 T 0 T 0 T5 0 T0 5 T 0 chấp giữa các cá nhân và/hoặc các cơ quan tổ chức, theo đó bên bị thiệt hại có thể được đền bù cho những thiệt hại đó.
Ví dụ, nếu một nạn nhân bị ôtô đâm đòi người lái xe bồi thường thiệt hại hoặc chấn thương do tai nạn gây ra, đây sẽ là một vụ kiện dân sự. LUẬT HỢP ĐỒNG Để cho hợp đồng được ký kết giữa các chủ thể thực hiện có hiệu quả và đảm bảo được sự quản lý của Nhà nước thì Nhà nước ban hành nhiều qui phạm pháp luật để áp dụng trong việc cụ thể hóa các vấn đề của hợp đồng. Như vậy, pháp luật về hợp đồng gồm một hệ thống các văn bản pháp luật khác nhau, trong mỗi văn bản pháp luật đó sẽ bao gồm nhiều điều luật qui định cụ thể hóa các nội dung của hợp đồng, định hình các qui tắc xử sự của các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Từ đó ta có thể kết luận pháp luật về hợp đồng như sau: Pháp luật về hợp đồng là một hệ thống các quy tắc sử xự của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hợp đồng.
Học viên: Mai Thị Quyên CH17KT Luận văn thạc sĩ 8 Ngành: Kinh tế TNTN&MT Chương II THIẾT LẬP MỤC TIÊU VÀ CHỈ TIÊU SAU KHI KẾT THÚC MỘT CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG 2. CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG Chính sách môi trường cụ thể hoá Luật Bảo vệ Môi trường (trong nước) và các Công ước quốc tế về môi trường. Mỗi cấp quản lý hành chính đều có những chính sách môi trường riêng. Nó vừa cụ thể hoá luật pháp và những chính sách của các cấp cao hơn, vừa tính tới đặc thù địa phương.
Sự đúng đắn và thành công của chính sách cấp địa phương có vai trò quan trọng trong đảm bảo sự thành công của chính sách cấp trung ương. CÁC VẤN ĐỀ CHUẨN TẮC VÀ PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CHUẨN TẮC Hầu hết các nhà kinh tế đều lập luận rằng hiệu quả kinh tế đạt được khi sự chênh lệch giữa lợi ích và chi phí là tối đa. Điều này chính là một tiêu chí cơ bản để đánh giá các nỗ lực bảo vệ môi trường. Bởi vì xã hội có những nguồn lực có hạn để chi tiêu, phân tích lợi ích - chi phí có thể giúp làm sáng tỏ sự đánh đổi phức tạp để tạo ra các loại đầu tư xã hội khác nhau.
Trong thực tế, có những khó khăn đáng kể mà phần lớn là vì những khó khăn vốn có trong việc đo lường lợi ích và chi phí. Ngoài ra, còn có mối quan tâm về sự công bằng và quá trình xem xét công đức, bởi vì các chính sách công chắc chắn liên quan đến người thắng và kẻ thua, ngay cả khi các lợi ích tổng hợp vượt quá chi phí tổng hợp.