Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. TỔNG QUAN VỀ NÂNG CAO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm a. Nhu cầu Nhu cầu được hiểu là tất cả những đòi hỏi và mong muốn của con người về vật chất và tinh thần cần được đáp ứng và thỏa mãn [2] Nhu cầu của con người rất đa dạng và phức tạp, thường xuyên tăng lên về chất lượng và số lượng.
Khi một nhu cầu được thỏa mãn thì lập tức sẽ xuất hiện những nhu cầu khác cao hơn. Trên thực tế, nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nó được xem như nguồn gốc tạo ra động lực thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao.
Kiểm soát nhu cầu đồng nghĩa với việc kiểm soát được cá nhân. Từ việc hiểu được nhu cầu của người lao động giúp nhà quản lý tìm ra các giải pháp thúc đẩy người lao động làm việc tốt hơn thông qua việc thỏa mãn và kích thích nhu cầu. Một khi nhu cầu của người lao động được thỏa mãn thì mức độ hài lòng của người lao động về công việc và tổ chức của mình sẽ tăng lên và nhờ vậy sẽ hướng sự nỗ lực của họ đến việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức. Phân loại nhu cầu Có nhiều cách phân loại nhu cầu.
- Theo Maslow: con người có 5 nhu cầu được sắp xếp theo thứ tự như sau: Nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu quan hệ xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự hoàn thiện. Luan van 5 Theo một số quan điểm khác của các nhà quản trị: Nhu cầu được chia thành 2 nhóm: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. + Nhu cầu vật chất : là nhu cầu tổng hợp về các yếu tố vật chất cần thiết để con người tồn tại và phát triển trong một điều kiện môi trường nhất định. Nói cách khác, để tồn tại được, con người cần thiết phải có các yếu tố vật chất.
Các yếu tố này có thể là có sẵn trong thiên nhiên như ánh sáng, không khí, nước uống, tài nguyên khoáng sản… hay các yếu tố do con người tạo ra thông qua quá trình lao động của mình. + Nhu cầu tinh thần: là những yếu tố làm thoả mãn về mặt tâm lý, tạo những điều kiện để con người phát triển về mặt trí lực. Nhu cầu tinh thần bao gồm các loại như: Nhu cầu được lao động, học tập, thẩm mỹ và giao tiếp xã hội, công bằng xã hội. Nhu cầu vật chất và tinh thần luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
Vì vậy, trong quản lý lao động không được xem nhẹ nhu cầu nào mà phải biết kết hợp một cách hài hoà đan xen để kích thích người lao động làm việc hăng hái, tích cực đem lại hiệu quả lao động cao. Động cơ Trong cơ học, động cơ là thiết bị dùng để biến đổi một dạng năng lượng nào đó thành cơ năng. Trong kinh tế, động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động. Động cơ ám chỉ những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định [1, tr.
Động cơ thường được bắt đầu bằng những nhu cầu không được thỏa mãn và thúc đẩy hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu đó. Động cơ làm ảnh hưởng tới hiệu suất công việc của nhân viên, và vì vậy, nhiệm vụ của nhà quản trị là phải hướng những động cơ đó vào việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức. Nghiên cứu động cơ thúc đẩy sẽ giúp nhà quản trị hiểu được cái gì đã Luan van 6 thôi thúc mọi người hành động, cái gì đã ảnh hưởng đến sự lựa chọn hành động và tại sao họ lại kiên trì theo đuổi hành động đó. Từ đó, định hướng sử dụng các công cụ để động viên họ hăng hái, tích cực và nhiệt tình hơn trong công việc.
Phân loại động cơ Động cơ làm việc của con người được phân làm 2 loại : - Động cơ cảm tính: động cơ gắn liền với trạng thái hứng thú lao động - Động cơ lý tính: là biểu hiện của sự nhận thức rõ ràng mục tiêu cụ thể, nhất định. Trên thực tế, hai dạng động cơ này gắn liền với nhau và phản ảnh qua thái độ của con người đối với hoạt động của mình. Động lực Về phương diện cơ học, động lực là năng lượng làm cho máy móc chuyển động. Về phương diện kinh tế, động lực là cái thúc đẩy, kích thích người lao động làm việc và cống hiến [3].
Theo đó, động lực được hiểu là sự khao khát, sự tự nguyện của con người nhằm tăng cường mọi sự nỗ lực để đạt mục tiêu, kết quả cụ thể nào đó. Chúng xuất phát từ trong tiềm thức, lý trí của bản thân con người mong muốn được hành động, được thể hiện và được cống hiến. Nâng cao động lực được hiểu là tổng thể các chính sách, biện pháp, công cụ tác động lên người lao động làm cho họ có nhiều phấn khởi, hăng say, tự nguyện trong công việc để thực hiện mục tiêu của tổ chức. Phân loại động lực Động lực làm việc bao gồm động lực bên trong và động lực bên ngoài.
- Động lực bên trong: là động lực xuất phát từ sự khát khao được thoả mãn các nhu cầu bên trong của từng cá nhân người lao động. - Động lực bên ngoài: liên quan đến các yếu tố tác động bên ngoài của Luan van 7 các doanh nghiệp và nhà quản trị như mức độ thoả mãn công việc hay khả năng đáp ứng nhu cầu của người lao động về lương bổng đãi ngộ, điều kiện làm việc, môi trường làm việc, cách đối xử của các nhà quản trị, tính hấp dẫn, độc đáo hữu ích, bao gồm các yếu tố và nội dung công việc. Động lực càng mạnh thì sự hăng hái, nhiệt tình và trách nhiệm đối với công việc càng cao, càng giúp người lao động vươn tới sự quyết tâm để đạt được mục tiêu với một năng suất và hiệu quả cao trong công việc. Vì thế trong quản trị con người, nhà quản trị phải không ngừng tìm cách tạo và gia tăng động lực làm việc.
Mối quan hệ giữa các khái niệm liên quan Để tạo ra động lực làm việc hiệu quả, các nhà quản trị không chỉ nghiên cứu các nhu cầu, mong muốn mà quan trọng hơn là phải biết được mức độ nhu cầu muốn được thoả mãn của người lao động để rồi từ đó đáp ứng một cách kịp thời, thoả đáng, phù hợp với công sức đóng góp của họ. Hay nói cách khác, tạo động lực lao động chính là sự nắm bắt các nhu cầu làm phát sinh động cơ và đáp ứng các lợi ích một cách thoả đáng bù đắp cho sức lao động đó bỏ ra. Nâng cao động lực là sự kế thừa phát huy trên cơ sở những động lực đã tạo ra được, gia tăng thêm động lực thúc đẩy. Tóm lại, giữa nhu cầu, động cơ và động lực có mối quan hệ khăng khít.
Nếu không có nhu cầu sẽ không phát sinh động cơ và không có mong muốn thoả mãn nhu cầu, từ đó không có động lực. Do vậy, để tạo động lực làm việc, nhà quản trị cần tìm hiểu động cơ của người lao động xem mục đích lao động của họ là gì, từ đó tác động vào lợi ích phù hợp với nhu cầu của họ. Để làm được điều này, trước hết, nhà quản trị cần xem xét nhu cầu nào tạo động cơ lớn hơn, cần thiết được thoả mãn trước và thoả mãn ở mức độ nào. Khi đã xác định được nhu cầu tạo động cơ, cần quan tâm xem loại lợi ích nào được người lao động coi trọng hơn từ đó có trình tự tác động làm thoả mãn lợi Luan van 8 ích một cách phù hợp nhất.
Tuy nhiên, cần lưu ý một vấn đề đó là nếu nhu cầu nào đó được thoả mãn hoàn toàn sẽ làm mất tác dụng tạo động lực và động lực sẽ tập trung vào nhu cầu khác. Các yếu tố tạo động lực thúc đẩy Động lực làm việc của người lao động là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố tác động, các nhân tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt. Chúng được chia thành ba loại yếu tố cơ bản đó là: a. Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp - Quy mô doanh nghiệp Quy mô nguồn nhân lực tức là nói đến tổng số nguồn nhân lực hiện có của một tổ chức tại thời điểm xác định, là toàn bộ người lao động cụ thể tham gia vào quá trình lao động.
Về mặt chất của quy mô nguồn nhân lực là nói đến yếu tố tinh thần (thái độ, động cơ, hành vi), trình độ chuyên môn,.được đúc kết trong mỗi cá nhân người lao động. Quy mô của nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài của tổ chức, đơn vị và cùng với các yếu tố khác, do đó, quy mô thường xuyên biến động theo thời gian. Vì vậy, sự thay đổi quy mô về lượng hay về chất đều ảnh hưởng đến tâm lý của người lao động. Người lao động chỉ có thể an tâm làm việc khi họ có một công việc ổn định, từ đó họ mới cố gắng phấn đấu phát huy vì mục tiêu của doanh nghiệp.
- Cơ cấu tổ chức Cơ cấu tổ chức là hệ thống các nhiệm vụ, mối quan hệ báo cáo và quyền lực nhằm duy trì hoạt động của tổ chức. Mỗi tổ chức có mục tiêu riêng nên cần phải có một cơ cấu phù hợp thể hiện sự bố trí, phối hợp các hoạt động của cá nhân nhằm đạt được mục tiêu đó. Luan van 9 Cơ cấu tổ chức làm rõ mức độ tập quyền hay phân quyền trong quản lý, quyền ra quyết định thuộc về ai và mức độ gắn kết nhân viên vào quá trình ra quyết định. Khi có một cơ cấu quản lý phù hợp với trách nhiệm rõ ràng, linh hoạt, gọn nhẹ, không chồng chéo thì chi phí quản lý giảm, thông tin phản hồi giữa cấp trên và cấp dưới sẽ nhanh chóng giúp giải quyết tốt các vấn đề phát sinh; người lao động sẽ thấy rõ địa vị trong tổ chức và họ sẽ chủ động, tích cực hơn trong công việc.
- Trình độ công nghệ Trình độ và kỹ thuật công nghệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến động lực làm việc của người lao động.