Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lê Thị Nam An tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số 922 90 02, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Sỹ Phán và TS. Trần Sỹ Dương vào năm 2022.
Về tính cấp thiết, tác giả khẳng định trong cấu trúc nhân cách của con người nói chung và người cán bộ, công chức nói riêng, đạo đức giữ vai trò là "nền tảng", "hạt nhân", là yếu tố "chưng cất". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, nếu không có đạo đức cách mạng thì dù tài giỏi đến đâu cũng không thể lãnh đạo được nhân dân. Quán triệt tư tưởng đó, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng cả đức và tài trong công tác cán bộ, lấy đức làm gốc. Tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Đảng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng Đảng về đạo đức, đề cao trách nhiệm nêu gương và ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu. Bên cạnh đại đa số cán bộ, công chức giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nếp sống giản dị, hoàn thành nhiệm vụ, thực tiễn vẫn ghi nhận một bộ phận cán bộ, công chức thiếu tính chuyên nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao, tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân thấp, thiếu tích cực trong phòng chống tham nhũng, lãng phí; một số trường hợp vi phạm quy định bảo vệ bí mật của Đảng và Nhà nước đến mức bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức suy thoái đạo đức, lối sống và vi phạm đạo đức công vụ.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng mặc dù đạo đức công vụ là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và nhà quản lý với nhiều bài báo và sách chuyên khảo, song đến thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ đặt trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạng sự lệch chuẩn đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
- Thứ hai, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
- Thứ ba, phân tích thực trạng sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân của thực trạng.
- Thứ tư, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm ngăn chặn, hạn chế, khắc phục sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2001 đến nay (năm 2022). Mốc năm 2001 được lựa chọn do Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chính thức xác định mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở phân tích sự lệch chuẩn đạo đức công vụ.
- Phạm vi không gian: Trên phạm vi toàn quốc.
- Phạm vi khảo sát nội dung: Luận án tập trung phân tích thực trạng sự lệch chuẩn đạo đức công vụ theo chiều hướng tiêu cực của cán bộ, công chức trong lĩnh vực dân sự.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa và phân tích dung lượng lớn tài liệu học thuật theo ba nhóm vấn đề chính:
Nhóm thứ nhất bao gồm các nghiên cứu về công vụ, đạo đức công vụ và chuẩn mực đạo đức công vụ:
- Về công vụ: Cuốn Thuật ngữ Hành chính của Học viện Hành chính Quốc gia (biên soạn dựa theo công trình của Đại học Stellenbosch, Nam Phi, 1995) tiếp cận công vụ từ góc độ hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Thân Minh Quế (2017) trong Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức hiện nay và Ngô Thành Can (2013) trong Đạo đức công chức trong thực thi công vụ xác định công vụ là hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý do công chức thực thi nhân danh nhà nước, sử dụng ngân sách nhà nước nhằm phục vụ xã hội và nhân dân.
- Về đạo đức công vụ: Đỗ Thị Ngọc Lan (2012) trong cuốn Nghiên cứu, so sánh quy định về đạo đức công vụ của một số quốc gia và Việt Nam nêu ba thành tố cấu thành quy tắc ứng xử (giá trị cốt lõi, nguyên tắc đạo đức công vụ và quy tắc ứng xử cụ thể). Nguyễn Chí Mỳ (2002) nghiên cứu sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý; Nguyễn Thế Kiệt (2007) và Trần Văn Phòng (2008) phân tích tiêu chuẩn đạo đức của cán bộ lãnh đạo chính trị. Trần Quốc Hải (2016), Lưu Kiếm Thanh (2006) và Bùi Huy Tùng (2010) bàn về việc thể chế hóa các chuẩn mực đạo đức vào luật công vụ. Cao Minh Công (2009, 2011) nhấn mạnh cơ chế tự điều chỉnh bằng lương tâm; Trần Anh Tuấn (2011) gắn chuẩn mực với tiêu chuẩn năng lực công chức. Nhóm tác giả Minh Hoàng, Thu Hường, An Nhiên, Khôi Nguyên và Tâm Thành (2015) khảo sát nền công vụ Cộng hòa Liên bang Đức; Phạm Nhẫn (2011) gắn đạo đức công vụ với cải cách hành chính; Trung Sơn (2014) dẫn chứng thực tiễn Trung Quốc xử lý tham nhũng. Nghiên cứu của Bùi Đình Phong (2012) và Trương Quỳnh Hoa (2013) phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ; Trương Quốc Chính (2014) và Nguyễn Tiến Hiệp (2012, 2013, 2015, 2017) phân tích các yếu tố tác động và mối liên hệ với dân chủ, pháp luật, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các công trình cấp Bộ của Trần Sỹ Phán (2010), Vũ Văn Điệp (2011), Hồ Trọng Hoài và cộng sự (2014), Bùi Thị Long (2013), Trần Thị Hạnh (2016), Trần Thị Thu Hường (2018) cùng luận án của Hứa Thị Kiều Hoa (2016) cung cấp cơ sở dữ liệu về thực trạng và giáo dục đạo đức công vụ.
- Về chuẩn mực đạo đức công vụ: Nguyễn Tiến Trung (2010) khái quát các giá trị cần, kiệm, liêm, chính; Hoàng Chí Bảo (2008) làm rõ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Đặng Khắc Ánh (2013) nêu sáu chuẩn mực đạo đức công vụ; Trương Quỳnh Hoa (2013) nêu bốn chuẩn mực và năm phẩm chất người lãnh đạo; Nguyễn Minh Tuấn (2009) phân tích kết cấu chuẩn mực đạo đức xã hội, đạo đức cách mạng và đạo đức ngành nghề.
Nhóm thứ hai gồm các nghiên cứu về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ và tác động của kinh tế thị trường:
- Đỗ Huy (1998) phân tích hiện tượng "khoán chui", "khoán 10", "khoán 100" trong nông nghiệp thời kỳ bao cấp như một dạng "lệch chuẩn trưởng thành", đồng thời phân loại lệch chuẩn thành lệch chuẩn tích cực và lệch chuẩn suy thoái. Ngô Thành Can (2012) phân chia lệch chuẩn hành vi thành lệch chuẩn thụ động (do nhận thức sai) và chủ động (cố ý làm trái), phân tích bốn nhóm nguyên nhân dẫn đến vi phạm. Trần Sỹ Phán (2013) định nghĩa lệch chuẩn đạo đức công vụ là sự sai lệch về ý thức, hành vi và quan hệ đạo đức so với khuôn mẫu chuẩn mực. Trần Sỹ Dương (2016) và Nguyễn Chí Mỳ (2017) nhận diện các biểu hiện suy thoái của cán bộ, đảng viên từ Đại hội VI đến Đại hội XII.
- Về tác động của kinh tế thị trường: Vũ Văn Gầu (2002) chỉ ra tính hai mặt của kinh tế thị trường; Nguyễn Trọng Chuẩn (2009) cảnh báo tàn dư bao cấp và quan hệ xin - cho; Trần Văn Bính (2004) chỉ ra sự tha hóa riêng của cán bộ có chức quyền; Nguyễn Thị Thanh Huyền (2013) phân tích hiện tượng sùng bái đồng tiền và thương mại hóa xã hội.
Nhóm thứ ba gồm các nghiên cứu về thực trạng và giải pháp khắc phục:
- Nguyễn Quốc Sửu (2010) và Cao Minh Công (2011) dẫn chứng các vụ án tham nhũng lớn tại Hải Phòng, Đề án 112, tượng đài Điện Biên Phủ, tập đoàn Vinashin. Lý Thị Huệ và Đặng Văn Luận (2013) phân tích thực trạng tham nhũng vặt, chạy chọt, quan liêu, vô cảm. Các tác giả Đặng Khắc Ánh (2013), Nguyễn Duy Hạnh (2010), Nguyễn Tiến Hiệp (2012, 2013) đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế, kiểm soát thu nhập, nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra và giáo dục đạo đức cách mạng.
Về vị trí và khoảng trống giải quyết: Kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước, luận án xác định vị trí nghiên cứu chuyên biệt dưới góc độ triết học đạo đức (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử). Luận án giải quyết khoảng trống học thuật: xem xét sự lệch chuẩn đạo đức công vụ theo chiều hướng tiêu cực một cách có hệ thống, gắn chủ thể công vụ với toàn bộ hệ thống chính trị Việt Nam (gồm cơ quan Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội theo quy định của Luật Cán bộ, công chức), và đặt sự tha hóa, lệch chuẩn đó trong mối liên hệ trực tiếp với sự vận động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam từ năm 2001 đến nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, cùng hệ thống các văn kiện, chủ trương, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chuẩn mực đạo đức cán bộ, công chức.
Về khung phân tích và khái niệm: Tác giả vận dụng quan điểm của Ph. Ăng-ghen cho rằng các quan niệm đạo đức của con người rút cuộc đều bắt nguồn từ các quan hệ kinh tế hiện thực, từ điều kiện sản xuất và trao đổi của xã hội. Luận án định vị đạo đức công vụ là một bộ phận của đạo đức xã hội và là một dạng đạo đức nghề nghiệp đặc thù gắn liền với quyền lực công. Tác giả phân tích ranh giới giữa chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật: pháp luật điều chỉnh bằng quyền lực cưỡng chế của nhà nước (đạo đức tối thiểu), trong khi đạo đức công vụ điều chỉnh thông qua niềm tin nội tâm, lương tâm cá nhân và sự giám sát của dư luận xã hội (pháp luật tối đa). Khung đánh giá sự lệch chuẩn đạo đức công vụ được xây dựng dựa trên sự đối chiếu hành vi thực tế của cán bộ, công chức với các chuẩn mực đạo đức công vụ đã được xác lập trong hệ thống thể chế và chuẩn mực xã hội thừa nhận.
Về phương pháp nghiên cứu: Luận án là công trình nghiên cứu định tính, sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng: Được vận dụng làm hạt nhân phương pháp luận để nhận diện bản chất sự lệch chuẩn đạo đức công vụ, xem xét sự tha hóa đạo đức trong mối quan hệ biện chứng với sự biến đổi của cơ sở kinh tế thị trường và sự vận hành của kiến trúc thượng tầng chính trị.
- Phương pháp lịch sử và lôgíc: Sử dụng nhằm tái hiện sự biến đổi chuẩn mực đạo đức công vụ qua các thời kỳ phát triển kinh tế (từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa), bảo đảm tính hệ thống từ nguồn gốc, lý luận, thực trạng đến giải pháp.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích các khái niệm, quy định pháp luật (Luật Cán bộ, công chức, các nghị định, quyết định, quy tắc ứng xử chuyên ngành), tổng hợp các quan điểm học thuật và xây dựng hệ thống giải pháp.
- Phương pháp thống kê: Được sử dụng ở Chương 1 và Chương 3 để tập hợp, so sánh các công trình nghiên cứu liên quan, đồng thời tổng hợp các dữ liệu thực tế về quy mô đội ngũ cán bộ, biên chế công chức, thiệt hại kinh tế và tỷ lệ các vụ án tham nhũng được công bố.
- Phương pháp dự báo khoa học: Được sử dụng chủ yếu tại Chương 4 để đưa ra các định hướng giải pháp phòng ngừa, hạn chế sự lệch chuẩn phù hợp với xu thế phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn tư liệu của luận án bao gồm các Văn kiện Đại hội Đảng (từ Đại hội VI đến Đại hội XIII), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII; các văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp, Luật Cán bộ, công chức, Nghị định 112/2020/NĐ-CP); các quy tắc ứng xử của Bộ Tư pháp (Quyết định 2659/QĐ-BTP năm 2012), Bộ Nội vụ (Quyết định 758/QĐ-BNV năm 2021), Thanh tra Chính phủ (Thông tư 01/2021/TT-TTCP năm 2021), Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (Quyết định 11/QĐ-HHNH năm 2019); các số liệu báo cáo của Chính phủ, Bộ Nội vụ và các công trình khoa học đã xuất bản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương này dành cho việc phân loại, phân tích toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo ba nhóm: công vụ - đạo đức công vụ - chuẩn mực đạo đức công vụ; sự lệch chuẩn đạo đức công vụ và tác động của kinh tế thị trường; thực trạng lệch chuẩn và giải pháp khắc phục.
Luận án ghi nhận các số liệu thực tế được các công trình trước công bố về vi phạm đạo đức công vụ và tham nhũng. Điển hình, nghiên cứu của Cao Minh Công chỉ ra thiệt hại do tham nhũng gây ra từ tháng 8/2010 đến hết tháng 7/2011 lên tới 11.400 tỷ đồng, trong đó tội tham ô chiếm 50% số vụ và 45% số bị can, tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản trên 15% số vụ và 13% số bị can. Tác giả Nguyễn Quốc Sửu liệt kê các vụ án tham nhũng nghiêm trọng minh chứng cho sự xuống cấp đạo đức công vụ như: vụ đất công tại Hải Phòng, dự án Quán Nam (Hải Phòng), sai phạm tại Đề án 112 (Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước), vụ "rút ruột" công trình Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ, và vụ án tại Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) để lại khoản nợ 80.000 tỷ đồng. Tác giả Trung Sơn dẫn số liệu năm 2013 tại Trung Quốc với 3.657 vụ tham nhũng bị xử lý, trong đó 1.481 vụ liên quan đến việc không làm tròn nhiệm vụ và lạm dụng quyền lực. Tổng hợp các công trình này, luận án chỉ ra các kết quả đã đạt được và khẳng định tính cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu vấn đề lệch chuẩn đạo đức công vụ dưới góc độ triết học Mác - Lênin.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam
Chương 2 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học và tiêu chí đánh giá sự lệch chuẩn.
- Khái niệm công vụ: Xuất phát từ đặc thù thể chế chính trị Việt Nam nơi Đảng Cộng sản lãnh đạo toàn diện và là một bộ phận của hệ thống chính trị, tác giả khẳng định công vụ ở Việt Nam không chỉ bó hẹp trong bộ máy hành chính nhà nước mà bao gồm cả hoạt động của đội ngũ làm việc trong các cơ quan của Đảng và tổ chức chính trị - xã hội. Tác giả định nghĩa: "Công vụ là những hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý nhằm hiện thực hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đảm bảo ổn định và phát triển xã hội, đảm bảo thực hiện các quyền lợi hợp pháp của nhân dân, được thi hành bởi đội ngũ cán bộ, công chức trong các tổ chức Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội". Năm yếu tố cốt lõi của công vụ gồm: phạm vi công vụ nói chung; chủ thể là cán bộ, công chức; nội dung là thực thi đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; mục đích phục vụ nhà nước, nhân dân và xã hội; nguồn kinh phí bảo đảm từ ngân sách nhà nước.
- Cán bộ, công chức và nguyên tắc công vụ: Cán bộ, công chức là những người được tuyển chọn, bổ nhiệm dựa trên tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức công vụ, hưởng lương từ ngân sách. Điều 3 Luật Cán bộ, công chức xác lập 5 nguyên tắc thi hành công vụ: (1) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; (2) Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân; (3) Công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát; (4) Bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả; (5) Bảo đảm thứ bậc hành chính và phối hợp chặt chẽ.
- Hoạt động thực thi quyền lực trong kinh tế thị trường có 4 đặc điểm: chịu sự điều chỉnh của nhiều chuẩn mực trong đó đạo đức có thế mạnh điều chỉnh từ lương tâm; đặt ra yêu cầu cao trong xử lý quan hệ giữa trách nhiệm, nghĩa vụ và hưởng thụ; đòi hỏi tiết chế quyền lực để không rơi vào lạm quyền, chủ nghĩa cá nhân; đặt ra yêu cầu xử lý quan hệ giữa cơ chế và lợi ích, lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, giữa cái thiện và cái ác.
- Khái niệm đạo đức công vụ: Luận án định nghĩa: "Đạo đức công vụ là một dạng đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp bao gồm các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực ứng xử nhằm điều chỉnh thái độ, hành vi, cách ứng xử của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, lương tâm và dư luận xã hội". Sáu đặc điểm của đạo đức công vụ: là dạng đạo đức nghề nghiệp; là dạng đạo đức xã hội; nội dung gồm nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực; thực hiện bởi niềm tin cá nhân, lương tâm công vụ và dư luận xã hội; vừa có tính khái quát vừa có tính cụ thể; đề cao tính chuẩn mực.
- Tiêu chí đánh giá sự lệch chuẩn đạo đức công vụ: Lệch chuẩn đạo đức công vụ là sự sai lệch, chệch hướng về ý thức, hành vi và quan hệ đạo đức của cán bộ, công chức so với các chuẩn mực đạo đức công vụ đã được xác lập, biểu hiện qua việc vi phạm nguyên tắc công vụ, lạm dụng quyền lực công mưu lợi riêng, thái độ vô cảm, sách nhiễu dân và suy thoái phẩm chất đạo đức cá nhân, đạo đức công dân.
Bảng tổng hợp các số liệu thực tế được trích dẫn trong văn bản luận án:
| Nội dung / Chỉ số ghi nhận |
Số liệu cụ thể trong văn bản |
Nguồn dữ liệu trong luận án |
| Số người hưởng lương hoặc phụ cấp từ ngân sách nhà nước (tính đến năm 2021) |
2.209.000 người (lực lượng viên chức chiếm đông nhất với gần 1,79 triệu người) |
Báo cáo dẫn chiếu tại trang 34 |
| Tổng biên chế công chức hưởng lương từ ngân sách phê duyệt ngày 22/9/2022 |
256.685 người (khối cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước chiếm 247.000; chưa tính Công an, Quốc phòng, cấp xã) |
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trang 34 |
| Thiệt hại do tội phạm tham nhũng (từ 8/2010 đến 7/2011) |
11.400 tỷ đồng; tội tham ô chiếm 50% số vụ và 45% số bị can; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm 15% số vụ và 13% số bị can |
Công trình của Cao Minh Công, trang 24 |
| Thiệt hại kinh tế tại vụ án Vinashin |
Món nợ 80.000 tỷ đồng cho quốc gia |
Bài viết của Nguyễn Quốc Sửu, trang 24 |
| Xử lý tham nhũng tại Trung Quốc (năm 2013) |
3.657 vụ bị xử lý; 1.481 vụ liên quan đến không làm tròn nhiệm vụ, lạm dụng quyền lực |
Bài viết của Trung Sơn, trang 12 |
Chương 3: Sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và nguyên nhân
Chương 3 luận giải thực trạng và nguyên nhân sự lệch chuẩn đạo đức công vụ:
- Về thực trạng lệch chuẩn: Tác giả chỉ ra các biểu hiện suy thoái theo chiều hướng tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, công chức dân sự từ năm 2001 đến nay. Biểu hiện rõ nét là tình trạng tham nhũng, lãng phí và nạn tham nhũng "vặt" trong giải quyết thủ tục hành chính; bệnh quan liêu, vô cảm, hách dịch, coi thường dân, biến quan hệ phục vụ thành quan hệ cai trị kiểu cũ; tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy biên chế, chạy vị trí công tác; việc lợi dụng sơ hở trong quy định pháp luật để ban hành chính sách cục bộ, tùy tiện ưu ái doanh nghiệp thân hữu, triển khai các dự án gây hại môi trường sống; sự phai nhạt lý tưởng chính trị, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ, bè phái, lợi ích nhóm; vi phạm quy định bảo vệ bí mật của Đảng và Nhà nước.
- Về nguyên nhân:
- Nguyên nhân khách quan: Tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, nơi giá trị đồng tiền chi phối quan hệ xã hội, kích thích chủ nghĩa vị kỷ cực đoan; sự thiếu đồng bộ, kẽ hở trong hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và pháp luật quản lý kinh tế, tài chính, đất đai; di sản tiêu cực kéo dài từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, đặc biệt là cơ chế xin - cho và thói quen dựa dẫm quan hệ thân quen.
- Nguyên nhân chủ quan: Sự suy giảm ý thức tu dưỡng, rèn luyện của bản thân cán bộ, công chức, không giữ được lương tâm nghề nghiệp trước cám dỗ vật chất; công tác cán bộ ở một số khâu (tuyển chọn, quy hoạch, bổ nhiệm, đánh giá) còn buông lỏng, chưa lấy hiệu quả công việc và đạo đức làm thước đo thực chất; công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra công vụ chưa đủ chặt chẽ; việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở còn mang tính hình thức; công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức chưa đạt hiệu quả thực tế.
Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu khắc phục sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 đề xuất hệ thống năm nhóm giải pháp đồng bộ:
- 4.1. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm khắc phục mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động đến đạo đức công vụ: Tập trung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý kinh tế, tài chính công, đất đai, mua sắm công; xóa bỏ triệt để cơ chế xin - cho; bảo đảm tính công khai, minh bạch nhằm loại bỏ các kẽ hở dẫn đến hành vi vụ lợi, sách nhiễu.
- 4.2. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngang tầm nhiệm vụ: Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII; đổi mới toàn diện các khâu tuyển dụng, bố trí, bổ nhiệm, đánh giá cán bộ dựa trên năng lực và đạo đức công vụ; cải cách chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ nhằm bảo đảm đời sống vật chất cho công chức; thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ thu nhập và tài sản của cán bộ.
- 4.3. Nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, công chức Việt Nam hiện nay: Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; bồi dưỡng tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nâng cao ý thức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân và tinh thần thượng tôn pháp luật.
- 4.4. Nâng cao ý thức tự rèn luyện đạo đức công vụ của cán bộ, công chức: Kích hoạt cơ chế tự điều chỉnh bằng lương tâm và trách nhiệm cá nhân; đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình, văn hóa hổ thẹn khi không hoàn thành phận sự hoặc có hành vi lệch chuẩn; phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu.
- 4.5. Mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của nhân dân, coi dư luận xã hội, truyền thông, báo chí là một kênh thông tin để ngăn ngừa, điều chỉnh, khắc phục lệch chuẩn đạo đức công vụ: Thực thi nghiêm chỉnh quy chế dân chủ cơ sở; tạo cơ chế thuận lợi, an toàn để nhân dân thực hiện quyền giám sát; khai thác thông tin từ báo chí, truyền thông và dư luận xã hội để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các sai phạm đạo đức công vụ.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được những kết quả nghiên cứu cụ thể gắn với các đóng góp mới được công bố:
- Về lý luận: Luận án làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận cán bộ, công chức theo chiều hướng tiêu cực trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay; xác định nội hàm khái niệm công vụ bao quát toàn bộ hệ thống chính trị; hệ thống hóa sáu đặc điểm của đạo đức công vụ và làm rõ các tiêu chí đánh giá cùng các biểu hiện của sự lệch chuẩn đạo đức công vụ.
- Về thực tiễn: Luận án chỉ ra thực trạng lệch chuẩn đạo đức công vụ theo xu hướng tiêu cực ở một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường từ năm 2001 đến nay; phân tích hệ thống nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn tới thực trạng này.
- Kiến nghị, giải pháp: Luận án đề xuất hệ thống năm nhóm giải pháp chủ yếu, có tính đồng bộ nhằm ngăn chặn, hạn chế và khắc phục sự lệch chuẩn đạo đức công vụ, kết hợp giữa đổi mới thể chế kinh tế, hoàn thiện công tác cán bộ, giáo dục tư tưởng, phát huy tự rèn luyện và mở rộng giám sát dân chủ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án xác định phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào thực trạng lệch chuẩn đạo đức công vụ theo chiều hướng tiêu cực của đội ngũ cán bộ, công chức trong khu vực dân sự, không đi sâu khảo sát lực lượng vũ trang (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng) và công chức cấp xã. Do tiếp cận dưới góc độ triết học đạo đức, luận án không tiến hành các khảo sát xã hội học định lượng diện rộng về tỷ lệ sai phạm của từng ngạch công chức cụ thể.
Về hướng nghiên cứu tiếp, các công trình sau có thể mở rộng nghiên cứu sang các nhóm đối tượng đặc thù như công chức cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn), lực lượng vũ trang; hoặc khảo sát chuyên sâu mối quan hệ giữa chế độ đãi ngộ, kiểm soát tài sản thu nhập với mức độ tuân thủ chuẩn mực đạo đức công vụ bằng các phương pháp định lượng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Triết học (Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Quản lý công và Đạo đức học: Phần cơ sở lý luận tại Chương 2 và tổng quan tài liệu tại Chương 1 cung cấp khung khái niệm rõ ràng về chuẩn mực và lệch chuẩn đạo đức công vụ.
- Cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ, nội vụ, thanh tra và các cơ quan tham mưu chính sách: Chương 3 và Chương 4 cung cấp luận cứ thực tiễn và hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý cán bộ, phòng ngừa suy thoái đạo đức trong khu vực công.
Câu hỏi thường gặp
-
Khái niệm "công vụ" trong luận án được xác định như thế nào để phù hợp với thể chế chính trị Việt Nam?
Trong luận án, tác giả xác định công vụ không chỉ giới hạn ở các cơ quan hành chính nhà nước như quan niệm của một số quốc gia phương Tây, mà bao gồm hoạt động của cán bộ, công chức trong toàn bộ hệ thống chính trị thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gồm cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội theo quy định tại Điều 2 Luật Cán bộ, công chức.
-
Luận án phân biệt cơ chế điều chỉnh của đạo đức công vụ và pháp luật công vụ ra sao?
Tác giả chỉ rõ pháp luật điều chỉnh hành vi công chức bằng quy phạm bắt buộc, dựa trên công cụ cưỡng chế của nhà nước và nỗi lo sợ bị trừng phạt (đạo đức tối thiểu). Ngược lại, đạo đức công vụ điều chỉnh từ bên trong thông qua niềm tin nội tâm, lương tâm chức nghiệp và dư luận xã hội, thúc đẩy công chức tự giác thực hiện những điều nên làm vì lợi ích chung (pháp luật tối đa).
-
Vì sao luận án chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2001?
Tác giả chọn mốc năm 2001 vì đây là thời điểm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chính thức xác định mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở phân tích sự tác động của cơ chế kinh tế này tới đạo đức công vụ.
-
Luận án ghi nhận những biểu hiện lệch chuẩn đạo đức công vụ điển hình nào?
Các biểu hiện tiêu cực được nêu trong văn bản gồm: nạn tham nhũng, lãng phí, tham nhũng "vặt"; thái độ quan liêu, hách dịch, vô cảm với dân; tình trạng "chạy chức, chạy quyền, chạy danh, chạy lợi"; ban hành quy định cục bộ vì lợi ích nhóm; và vi phạm các quy định bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước.
-
Những giải pháp trọng tâm nào được đề xuất để khắc phục sự lệch chuẩn đạo đức công vụ?
Luận án đề xuất năm giải pháp chính: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ; nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức; nâng cao ý thức tự rèn luyện của cán bộ, công chức; và mở rộng dân chủ, phát huy vai trò giám sát của nhân dân cùng các cơ quan truyền thông, báo chí.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Nam An đã giải quyết hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về sự lệch chuẩn đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2022. Dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, công trình xác định rõ nội hàm khái niệm, tiêu chí đánh giá, đồng thời chỉ ra các biểu hiện tha hóa, suy thoái đạo đức cùng căn nguyên khách quan và chủ quan. Hệ thống năm nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án có tính gắn kết với thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho công tác xây dựng Đảng về đạo đức và cải cách nền công vụ hiện nay.