Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Phần 3: Đặc điểm địa bàn và Phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Kết luận và kiến nghị 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 2. Một số khái niệm cơ bản về năng lực cạnh tranh 2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Từ nhiều thập kỷ trước đây, thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh” đã trở nên khá phổ biến đối với các nhà kinh tế và hoạch định chính sách trên thế giới với nhiều quan điểm và phương pháp nghiên cứu khác nhau.
Có rất nhiều thuật ngữ khác nhau liên quan đến quá trình cạnh tranh giữa các chủ thể được sử dụng song hành cùng với thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh” (Competitiveness) như: “Sức cạnh tranh” (Competitive Edge), “Khả năng cạnh tranh” (Competitive Capacity), “Lợi thế cạnh tranh” (Competitive Advantage) và “Tính cạnh tranh” (Competitivity). Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong việc sử dụng những thuật ngữ này. Theo quan điểm của K.Marx, “cạnh tranh” là “sự ganh đua đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là “sự ganh đua, kinh địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một nhóm khách hàng về phía mình”.
Khái quát lại hệ thống lý thuyết về cạnh tranh cho thấy, cạnh tranh là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau, là một phạm trù rất rộng và mang tính lâu dài. Khái niệm cạnh tranh được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, ngành, địa phương hoặc quốc gia…, và chỉ khác nhau ở mục tiêu được đặt ra là ở quy mô doanh nghiệp, địa phương hay quốc gia. Trong khi đối với một doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận cao thì đối với địa phương hay quốc gia, mục tiêu là tạo việc làm, nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân. Tóm lại cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể cạnh tranh ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu của mình.
Liên quan đến quá trình cạnh tranh, làm thế nào để hình thành được năng lực cạnh tranh thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, chính phủ quốc gia, các doanh nhân và cả các nhà nghiên cứu. Từ khái niệm cạnh tranh có thể hiểu rộng ra năng lực cạnh tranh là tập hợp những điều kiện vốn có hoặc khả 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng đủ để giành thắng lợi, tạo lập được những thuận lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh (cá nhân hay tổ chức, doanh nghiệp, địa phương hay quốc gia) trong việc thực hiện cùng mục tiêu nào đó. Có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ: quốc gia, địa phương, doanh nghiệp và sản phẩm. Hiện nay vẫn chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn thuyết phục và “chuẩn” về năng lực cạnh tranh.
Dù vậy, hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá được các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất là: (i) phương pháp do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu, và (ii) phương pháp do Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đề xuất trong cuốn niên giám cạnh tranh thế giới. Cả hai phương pháp này đều do một số Giáo sư đại học Havard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng. Năng lực cạnh tranh quốc gia Năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được mức tăng trưởng cao mang lại sự thay đổi tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người theo thời gian”.
Theo tác giả Lương Gia Cường (2003), năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định được kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của người dân”. Theo đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thì năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao, là tăng năng lực sản xuất bằng việc đổi mới, sử dụng các công nghệ cao hơn, đào tạo kỹ năng liên tục, quan tâm đến công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Năng lực cạnh tranh ngành Theo M.Porter (1980), một ngành (sản phẩm hay dịch vụ) là một nhóm doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm hay dịch vụ mà những sản phẩm hay dịch vụ này cạnh tranh trực tiếp với nhau. Ngành còn được định nghĩa là một nhóm các công ty chào bán một sản phẩm hay một danh mục sản phẩm có thể hoàn toàn thay thế được.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng đạt năng suất cao, sử dụng đầu vào thấp nhất để tạo được nhiều đầu ra nhất.Trong cạnh tranh ngành, chủ thể cạnh tranh là ngành. Cũng có thể hiểu năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng ngành đó tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn các ngành khác trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Có rất nhiều cách để phân tích năng lực cạnh tranh của ngành, tác giả M.Porter (1980) đưa ra cách phân tích năng lực cạnh tranh dựa vào phân tích cấu trúc trong quản trị chiến lược. Theo đó năng lực cạnh tranh ngành bị ảnh hưởng bởi các nhóm nhân tố: điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; trình độ phát triển khoa học - công nghệ; nguồn nhân lực; kết cấu hạ tầng; trình độ tổ chức quản lý ngành; thể chế kinh tế - xã hội.
Năng lực cạnh tranh địa phương Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia, mọi địa phương. Để thực hiện mục tiêu ấy, mỗi quốc gia, địa phương sẽ có những chính sách và bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Bất kỳ địa phương nào cũng phải tìm lời giải đáp cho vấn đề là nguồn lực cho đầu tư phát triển ở đâu và cách thức huy động các nguồn lực ấy như thế nào. Tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư và phát triển DN là lời giải đáp cho mỗi chính quyền địa phương.
“Khả năng một địa phương cấp tỉnh thu hút các DN, các tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển kinh tế - xã hội theo những mục tiêu đã định chính là năng lực cạnh tranh của tỉnh đó” [7,16-17]. Do vậy, một tỉnh có NLCT cao thể hiện ở sự hấp dẫn về đầu tư và kinh doanh đối với các DN, nhà đầu tư hay là đã tạo lập được môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đó. Cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội là cấp độ cạnh tranh có tính gay gắt, đa dạng hơn trong phạm vi một quốc gia. Cạnh tranh giữa các tỉnh trong một quốc gia có mức độ mềm dẻo và linh hoạt hơn.
Đó là sự ganh đua giữa các tỉnh (vùng) nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương (vùng) đó sẵn có hoặc tự tạo ra như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên phong phú hoặc chất lượng con người, cơ sở hạ tầng, chính sách thu hút đầu tư,. đan xen với sự ganh đua có tính chất hợp tác, liên kết cùng phát triển dựa trên lợi thế có sẵn của nhau. Vì thế, việc liên kết hợp tác giữa các địa phương nhằm xoá bỏ giới hạn địa giới hành chính và phân chia các nguồn lực nhằm bổ sung và hỗ trợ cho nhau để tăng cường năng lực cạnh tranh của các tỉnh trở nên rất quan trọng. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, thực chất NLCT cấp tỉnh là khả năng các tỉnh ganh đua nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương trong mối quan hệ liên kết với những địa phương khác trong phạm vi quốc gia.
Như vậy, vai trò của chính quyền địa phương là tạo môi trường thúc đẩy thu hút đầu tư nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Vai trò ấy được xác định trên các mặt sau: (1) Định hướng phát triển thông qua các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, chính sách phát triển kinh tế; (2) Tạo môi trường pháp lý và kinh tế cho các DN hoạt động và cạnh tranh lành mạnh; (3) Điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính công; (4) Kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế theo pháp luật, chính sách đã đề ra. Để nâng cao NLCT cấp tỉnh, cả nguồn lực vật chất và nguồn lực phi vật chất (hay nguồn lực mềm) đều rất quan trọng. Trong khi các nguồn lực vật chất dễ nhận biết, lượng hoá thì nguồn lực phi vật chất không phải lúc nào và ai cũng nhìn nhận ra được, và nhìn nhận như nhau.
Vì thế, khi nói đến NLCT và tạo dựng NLCT cho địa phương mình, mỗi tỉnh sẽ nhìn nhận và có cách làm khác nhau. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị phần, tạo thu nhập cao và phát triển bền vững. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là yếu tố nội lực của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính một cách riêng biệt bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp…mà cần đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường.
Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối thủ cạnh tranh.