Mở đầu. Chương 2: Những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần. Chương 3: Thực trạng chất lượng tín dụng doanh nghiệp SME tại ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam – chi nhánh Đống Đa. Chương 4: Giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Đống Đa.
2 2CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG TMCP. Cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng TMCP. Khái niệm cho vay ngân hàng - Theo Khoản 1 điều 2 TT 39/2016/TT-NHNN có hiệu lực ngày 30/12/2016, “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” 2. Phân loại cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 2.
Căn cứ vào thời gian cho vay - Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn tối đa 1 năm, vốn cho vay ngắn hạn dùng để bổ sung vào vốn lưu động tạm thời thiếu hụt, bổ sung vốn thực hiện các phương án kinh doanh mang tính thời vụ của chủ thể vay vốn - Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 1 năm và tối đa 5 năm. - Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Căn cứ vào đối tượng đi vay - Cho vay cá nhân: Phục vụ khách hàng vay là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh. - Cho vay doanh nghiệp: Phục vụ cho đối tượng là các doanh nghiệp.
Căn cứ vào tài sản bảo đảm. - Cho vay có TSBĐ: Là loại cho vay mà người vay phải đưa tài sản vào thế chấp, cầm cố hoặc được bên thứ 3 bảo lãnh bằng việc cấm cố, thế chấp tài sản để đảo bảo nghĩa vụ trả nợ. - Cho vay không có TSBĐ (tín chấp): Là loại cho vay mà người vay không phải đưa TSBĐ vào thế chấp mà dựa vào độ uy tín, độ tin cậy của người vay trên thị trường cho vay và thị trường kinh doanh. Đặc điểm của cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng TMCP Xuất phát từ các đặc điểm chung của SMEs là tình trạng không minh bạch về tài chính, vốn tự có thấp, khả năng tiếp cận thông tin và thị trường hạn chế, thiếu TSBĐ để 3 thế chấp, khả năng chống đỡ rủi ro thị trường còn thấp nên các ngân hàng thường có tâm lý thận trọng hơn khi cho vay đối với SMEs vì rủi ro cho vay là cao hơn nhiều so với khi cho vay các doanh nghiệp lớn.
Các SMEs thường có nhu cầu vay vốn ngân hàng để bổ sung vốn lưu động, đầu tư vào các dự án có quy mô nhỏ, vì tiềm lực tài chính cũng như khả năng quản lý chưa thực sự đủ mạnh để đảm nhiệm các dự án có quy mô lớn. Chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM. Quan niệm về chất lượng cho vay ngân hàng thương mại Trước tiên ta cần hiểu rõ khái niệm về cấp cho vay, Khoản 1 điều 2 TT 39/2016/TT- NHNN có hiệu lực ngày 30/12/2016 thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Tiếp đến là khái niệm về chất lượng, theo tiêu chuẩn ISO 9000:2015 “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của một đối tượng đáp ứng các yêu cầu.
Đặc tính: Có thể là đặc tính vật lý (ví dụ đặc tính cơ, điện, hóa hoặc sinh); đặc tính cảm quan (ví dụ liên quan đến khứu giác, xúc giác, vị giác, thị giác, thính giác); đặc tính hành vi (ví dụ nhã nhặn, trung thực, tin cậy); đặc tính thời thời gian (ví dụ đúng lúc, sẵn có, liên tục); đặc tính về chức năng (ví dụ tốc độ tối đa của động cơ, thiết bị). Đối tượng: Hạng mục thực thể. Bất cứ điều gì có thể cảm nhận được hoặc nhận biết được. Ví dụ: Sản phẩm, dịch vụ, quá trình, cá nhân, tổ chức, hệ thống, nguồn lực.
Yêu cầu: Nhu cầu hoặc mong đợi được tuyên bố, ngầm hiểu chung hoặc bắt buộc”. Xét dưới góc độ ngân hàng và đối tượng sản phẩm là cho vay ngân hàng thì ta có khái niệm chất lượng cho vay như sau “chất lượng cho vay là chỉ tiêu phản ánh mức độ NHTM đạt được trong việc giảm thiểu tổn thất của rủi ro cho vay đồng thời vẫn bảo đảm đạt được các mục tiêu tăng trưởng và sinh lời trong hoạt động cho vay của mình”. Trong hoạt động cho vay của ngân hàng, chất lượng cho vay được thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn cho vay dựa trên cơ sở ổn định, an toàn và hiệu quả; hạn chế thấp nhất các khoản nợ xấu góp phần giảm tỷ lệ nợ xấu, hạn chế rủi ro cho vay và mang lại doanh thu thuần cho ngân hàng. Để thực hiện được điều này các NHTM phải kiểm soát RRTD ở mức có thể chấp nhận được như tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong hoạt động cho vay, giảm thấp chi phí bù đắp rủi ro, nhằm đạt được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh.
Tầm quan trọng của nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHTM Nâng cao chất lượng cho vay là điều kiện để ngân hàng làm tốt chức năng trung gian thanh toán, trung gian cho vay, là nơi điều hoà về vốn trong nền kinh tế. Việc nâng 4 cao chất lượng cho vay không chỉ tạo uy tín cho bản thân ngân hàng mà còn tăng khả năng đứng vững trên thị trường. Nâng cao chất lượng cho vay là cơ sở để NHTM phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng nhằm xử lý rủi ro tín dụng. Đồng thời, NHTM có thể đánh giá chính xác chất lượng danh mục tín dụng, phát hiện sớm các khoản nợ có vấn đề và dự báo khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động tín dụng để có biện pháp quản lý kịp thời và phù hợp.
Việc nâng cao chất lượng tín dụng làm tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm tín dụng ngân hàng, giảm chi phí về thời gian, thủ tục, chi phí quản lý, chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn vay. Việc đơn giản hoá các thủ tục trong hồ sơ vay vốn mà vẫn không ảnh hưởng đến các nguyên tắc tín dụng sẽ góp phần làm lành mạnh hoá quan hệ tín dụng, tăng quy mô khách hàng. Mặt khác, việc nâng cao chất lượng tín dụng phải luôn gắn liền với việc mở rộng cho vay. Nếu ngân hàng chỉ mở rộng cho vay mà không quan tâm đến chất lượng tín dụng thì đây là một việc làm rất mạo hiểm, có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng.
Nhưng nếu ngân hàng chỉ chú tâm đến chất lượng tín dụng thì sẽ làm giảm thu thuần cho ngân hàng, đồng thời kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ 2. Tổng dư nợ cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tổng dư nợ cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng yếu kém, không có khả năng mở rộng khách hàng, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém, trình độ cán bộ công nhân viên thấp… Mặc dù vậy, chỉ tiêu này cao thì chưa hẳn chất lượng khoản vay tốt. Song nếu tổng dư nợ tăng liên tục qua các năm thì lại cho thấy chiều hướng tăng lên của chất lượng tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu (nợ phân vào nhóm 3,4,5) Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ khó đòi trên tổng dư nợ quá hạn của NHTM tại một thời điểm nhất định. Nợ khó đòi là khoản nợ quá hạn đã quá 3 kỳ.
Chỉ tiêu này phản ánh một cách chính xác hơn khả năng mất vốn của ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao thì chất lượng tín dụng của ngân hàng càng thấp. Nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = x 100 ≤ 2% Tổng dư nợ tín dụng 5 Ở Việt Nam, theo TT52/2018/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 31/12/2018 quy định xếp hạng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các NHTM được xếp hạng A về chất lượng tín dụng khi có tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ nhỏ hơn hoặc bằng 2%. Các chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ với nhau và phản ánh các mức độ rủi ro tín dụng khác nhau.
Đối với ngân hàng, việc khách hàng không trả nợ đúng hạn có liên quan đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản. Nợ khó đòi là một lời cảnh báo cho ngân hàng. Khi đánh giá nợ quá hạn cũng cần phải chú ý đến một số nghiệp vụ tín dụng như việc tính toán kỳ hạn nợ, điều chuyển kỳ hạn nợ và gia hạn nợ dựa trên những cơ sở đúng đắn hay không. Cơ cấu nợ để không nằm trong chỉ tiêu nợ quá hạn, nhưng chính nợ cơ cấu cũng phản ánh phần nào khả năng mất vốn của ngân hàng.
Nếu các ngân hàng cơ cấu lại nợ chỉ nhằm giảm chỉ tiêu nợ quá hạn mà không xem xét đến khả năng trả nợ của khách hàng thì nó chính là nguy cơ đối với ngân hàng. Tỉ lệ nợ quá hạn theo nhóm nợ Tỉ lệ nợ quá hạn theo nhóm nợ được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn của nhóm đó trên tổng dư nợ của NHTM tại một thời điểm xác định. Nợ quá hạn theo nhóm Tỷ lệ nợ quá hạn theo = Tổng dư nợ tín dụng doanh nghiệp x 100 nhóm nợ SMEs Theo khoản 1 điều 10 TT 11/2021/TT-NHNN có hiệu lực ngày ngày 30/7/2021, thì tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ tín dụng theo 05 nhóm sau như bảng 1.