Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC THI CÔNG KÈ ĐÊ BIỂN 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI KÈ ĐÊ BIỂN Mái đê biển, đê sông, mái bờ sông, bờ biển chịu tác dụng trực tiếp của dòng chảy, của thủy chiều, của sóng. Để giữ cho mái dốc đất không bị biến dạng, ở phía ngoài cùng được cấu tạo một bộ phận có tác dụng bảo về mái dốc không bị xói lở. Bộ phận này được gọi là kè bảo vệ mái dốc.
Theo hình thức, kết cấu, vật liệu sử dụng, kè bảo vệ mái dốc có nhiều loại khác nhau. Mỗi loại đều có 3 bộ phận chính: chân kè, thân kè, đỉnh kè. - Chân kè làm nhiệm vụ bảo vệ chống xói ở chân mái dốc. - Thân kè là phần bảo vệ mái dốc từ chân đến đỉnh.
- Đỉnh kè là phần bảo vệ đỉnh mái dốc. Từng phần theo từng điều kiện cụ thể có cấu tạo chi tiết để đảm bảo điều kiện ổn định trong quá trình chịu tác dụng của các tải trọng từ phía sông, phía biển và từ phía đất thân đê hoặc đất bờ. Hiện nay có nhiều dạng kết cấu kè bảo vệ mái khác nhau, nhưng có thể tổng quát thành 3 dạng kết cấu mái kè cơ bản: - Dạng mái đá - Dạng cấu kiện xếp - Dạng khác: bê tông asphalt, trồng cỏ, bê tông vải địa kỹ thuật. Dạng kè mái đá bao gồm các loại kè đá đổ, kè đá lát khan, kè đá xây, rọ đá.
với vật liệu làm mái kè là vật liệu đá tự nhiên. Hiện nay, loại mái kè này ở nước ta được sử dụng tương đối phổ biến trong việc bảo vệ mái bờ kênh, bờ sông và mái đê biển.1 thể hiện các loại mái kè bằng vật liệu đá đã được sử dụng hiện nay. 6 a) Kè đá xây b) Kè đá lát khan c) Kè đá đổ d) Mảng rọ đá Hình 1. Các loại kè mái bằng vật liệu đá Dạng cấu kiện xếp bao gồm cột bê tông xếp rời, mảng cấu kiện bê tông, cấu kiện bê tông liên kết ngàm khóa, tấm bê tông.
Kè bê tông lát mái được sử dụng phổ biến ở công trình đê sông đê biển, bảo vệ bờ, bến cảng ở thế giới và ở nước ta, đặc biệt đê biển các tỉnh đồng bằng bắc bộ và bắc trung bộ. Tác nhân chính phá hoại kè bảo vệ mái là sóng nên đối với vật liệu đá tự nhiên có kích thước không đảm bảo dễ dàng bị sóng cuốn trôi phá hỏng kè nên kè bê tông thường được thay thế kè đá truyền thống. Kè mái bê tông có nhiều loại, nhiều hình dạng khác nhau với các viên độc lập hoặc liên kết mảng. Cục bê tông có ngàm liên kết được dùng nhiều do gia tăng độ ổn định, nhờ vậy giảm trọng lượng, kích thước cấu kiện.
Kè cục bê tông rời được đặt ghép trên mái dễ dàng khi thi công và trong quản lý khi cần phải thay thế viên bị hỏng, xô bong. Các loại kè mái bằng cấu kiện bê tông lắp ghép Dạng khác gồm trồng cỏ bảo vệ mái, bê tông asphalt, kè nhựa đường, bê tông vải địa kỹ thuật. a) Kè bê tông nhựa b) Kè bê tông vải địa Hình 1. Các loại kè mái dạng khác Kè bảo vệ mái dốc là một bộ phận quan trọng để duy trì ổn định cho đê và bờ.
Nó chiếm một tỷ lệ kinh phí đáng kể trong các dự án đê điều và bảo vệ bờ. Mặt khác sự làm việc của loại kết cấu này tương đối phức tạp, còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ. Hiện nay ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới có 8 nhiều công trình nghiên cứu cải tiến các hình thức kết cấu nhắm hoàn thiện phương pháp tính toán đảm bảo an toàn, tăng hiệu quả kinh tế cho kè bảo vệ mái dốc nói riêng và cho đê và bờ nói chung. CÔNG TÁC THI CÔNG KÈ ĐÊ BIỂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.
Công tác thi công kè đê biển trên thế giới. Đá lát, mảng bê tông, cấu kiện bê tông lắp ghép. Trên thế giới hiện nay phổ biến nhất vẫn là các hình thức bảo vệ mái bằng đá đổ, đá lát khan và cấu kiện bê tông đúc sẵn, cấu kiện bê tông lắp ghép với các dạng liên kết khác nhau. Bảo vệ mái đê ở Hà Lan Hình 1.4 là một đoạn đê ở Hà Lan, mái đê được bảo vệ phối hợp bằng nhiều biện pháp: phía dưới mái đê dùng đá đổ, ở giữa mái sử dụng kết cấu bê tông lắp ghép và phía trên cơ đê được trồng cỏ bảo vệ.
Cấu kiện bê tông tự chèn là dùng các cấu kiện bê tông có kích thước và trọng lượng đủ lớn đặt liên kết tạo thành mảng bảo vệ chống xói cho mái phía biển do tác động của sóng và dòng chảy. Để gia tăng ổn định và giảm thiểu kích thước cấu kiện người ta không ngừng nghiên cứu cải tiến hình dạng cấu kiện và liên kết giữa các cấu kiện theo hình thức tự chèn. Kết cấu loại này dễ thoát nước, dễ biến dạng cùng với đê nên có độ ổn định của kết cấu tương đối cao. Có rất nhiều dạng kết cấu bê tông gia cố, hình dạng của các kết cấu gia cố dựa trên tiêu chí liên kết mảng và giảm sóng.5 thể hiện một dạng kết cấu gia cố đê biển của Nhật Bản.
Cấu kiện loại này có nhiều lỗ rỗng để tăng khả năng thoát nước và giảm sóng [11]. Bảo vệ mái đê bằng cấu kiện bê tông ở Nhật Bản Hình 1.6 là ảnh thiết bị thi công lắp ghép các cấu kiện bê tông khối lớn (basalton) gia cố mái đê phía biển. Thi công cấu kiện bê tông bảo vệ mái ở Hà Lan Hình 1.7 thể hiện một cấu kiện gia cố dạng khối sáu mặt, kích thước lớn theo xu hướng chuyển từ dạng tấm sang dạng cột (cấu kiện kích thước 0,6 x 0,8 x 0,8) [11]. Thi công cấu kiện bê tông bảo vệ mái dạng cột 10 Hiện nay, gia cố mái đê biển bằng các cấu kiện bê tông đúc sẵn rất phổ biến do có các ưu điểm nổi trội về sự ổn định dưới tác động của sóng và dễ thi công, sửa chữa, thay thế và thuận tiện cả dùng thi công cơ giới.
Thảm bê tông Các cấu kiện bê tông được nối với nhau tạo thành mảng liên kết. Các cấu kiện này liên kết với nhau bằng dây cáp, bằng móc, hoặc các tấm bê tông gắn với lớp vải lọc bằng ghim, keo hoặc các cách khác. Khe hở giữa các cấu kiện thường lấp đầy bằng cao su, bằng sỏi hoặc đá vụn, gạch xỉ. Phải bố trí tầng lọc ngược giữa thảm bê tông với thân đê.
Cấu kiện bê tông mảng kiểu này thường xuyên được cải tiến về hình dạng và cách thức liên kết.8 thể hiện thảm bê tông đang được thi công trên một đoạn đê, bên dưới lót vải địa kỹ thuật làm lọc. Thảm bê tông được liên kết từ các khối Armorflex bằng dây cáp. Kè bảo vệ mái bằng thảm bê tông liên kết từ các khối Armorflex. Thảm bê tông bọc vải địa kỹ thuật Công nghệ gia cố bờ kè bằng các tấm bê tông bọc vải địa kỹ thuật được phát triển đầu tiên ở Mỹ, bắt đầu từ những năm 80 của thập kỷ trước.
Các nhà sản xuất sẽ cung cấp sản phẩm theo một khuôn mẫu với độ dày dao động từ 100mm, 150mm, 200mm tùy từng loại ứng dụng. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều nước ứng dụng phương pháp này bao gồm: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Các tiểu vương quốc Ả rập, Anh Quốc. 11 Cấu tạo của dạng này gồm 2 lớp vải địa kỹ thuật giữa là bê tông hoặc xi măng. Vải địa kỹ thuật được nối với nhau theo nhiều cách tùy theo hình thức kết cấu mảng.
Kè bảo vệ mái bằng thảm bê tông bọc vải địa kỹ thuật 1. Thảm đá Các rọ bằng thép bọc chất dẻo hoặc chất dẻo trong đựng đầy đá gọi là thảm đá. Thảm đá dùng để chống xói cho đê và bờ sông, bờ biển do tác động của sóng và dòng chảy. Cơ sở của kết cấu này là liên kết những viên đá nhỏ lại thành một khối lớn đủ trọng lượng, kết cấu để sóng và dòng chảy không phá hỏng được.
Kè bảo vệ mái bằng thảm đá 1. Gia cố mái đê bằng nhựa đường. Hàng thế kỷ trước đây, vật liệu nhựa đường đã được sử dụng ở vùng Trung Âu vào việc làm kín nước. Vào năm 1893, Italy dùng nhựa đường phủ mái đập đá đổ.
Năm 1953, Hà Lan đã sử dụng bê tông nhựa đường vào xây dựng đê biển. Vật liệu này thường dùng kết hợp với vật liệu khác để gia cường, chẳng hạn nhựa đường-đá xếp, nhựa đường-bê tông khối, bê tông Asphalt ứng dụng trong xây dựng 12 công trình thủy lợi, đê biển của nhiều nước tiên tiến như Nauy, Hà lan, Mĩ và một số nước khác [11]. Kè bảo vệ mái bằng nhựa đường kết hợp đá xếp 1. Thảm bằng các túi địa kỹ thuật chứa cát Các túi địa kỹ thuật được bơm đầy cát đặt trên lớp vải địa kĩ thuật, liên kết với nhau thành một hệ thống gọi là thảm túi cát để bảo vệ mái dốc của đê, bờ sông, bờ biển [11].
Bảo vệ mái bằng túi vải địa kỹ thuật bọc cát ở Đức. Một số ứng dụng khác của túi địa kỹ thuật, có thể xây dựng kè chắn sóng, sửa chữa trụ cầu, gia tăng trọng lượng cho đường ống, neo giữ…[16]. a) Xây dựng kè chắn sóng, chống xói. b) Bảo vệ bờ, chống tác động của sóng lớn.
c) Sửa chữa trụ cầu xây dựng trong nước. d) Bảo vệ xói trên các ống chôn, gia tăng sự neo giữ. e) Gia tăng trọng lực, ổn định cho đường ống dẫn nước. f) Neo giữ kết cấu mỏ.
g) Sửa chữa xốp rỗng trong các kết cấu xây. Hệ thống ống địa kỹ thuật chứa cát. Sử dụng ống địa kĩ thuật, có đường kính từ 0,5m đến 2,5m, kích thước tuỳ thuộc vào yêu cầu công trình. Chiều dài mỗi ống trung bình khoảng 60m-100m.
Định vị ống vào vị trí dự kiến sau đó bơm dung dịch tỉ lệ 1 phần cát với 4 phần nước, cho đến khi ống đầy cát hoặc vữa xi măng [11].13 thể hiện các ứng dụng mở rộng của ống địa kỹ thuật, ống cát địa kỹ thuật được sử dụng làm kè bờ biển, lấn biển, làm thân đê… Hình 1. Một số ứng dụng của ống cát địa kỹ thuật 1. Công tác thi công kè đê biển tại Việt Nam. Kè lát mái bằng đá lát khan.
Đá hộc phải có kích thước, trọng lượng nhất định đủ đảm bảo ổn định dưới tác dụng của sóng và đẩy nổi của nước, dòng chảy, kích thước trung bình mỗi chiều khoảng 0,25m - 0,30m. Đá được xếp chặt từng lớp theo mái.