Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THANH TRA, GIÁM SÁT THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1. TỔNG QUAN VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Khái niệm Chứng khoán Có nhiều khái niệm khác nhau về chứng khoán[18]: - Chứng khoán là mọi sản phẩm tài chính có thể chuyển nhƣợng đƣợc; - Chứng khoán đƣợc hiểu là tờ giấy làm bằng chứng, chứng nhận cho ngƣời cầm giữ nó có những quyền nhất định đối với một loại tài sản nào đó; - Chứng khoán là chứng chỉ hay bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành…. - Theo Luật Chứng khoán số 70/2006/QH đƣợc áp dụng từ ngày 01/01/2007, “Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.
Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán”. Dù ghi nhận chứng khoán theo cách nào, theo tiếp cận nào thì chứng khoán cũng đại diện cho một số tiền nhất định mà ngƣời đầu tƣ đã ứng ra và điều cơ bản là nó đƣa lại cho ngƣời sở hữu chứng khoán quyền đƣợc hƣởng những khoản thu nhập nhất định trong tƣơng lai. Vì thế, 13 Luan van chứng khoán có thể đƣợc mua bán và đƣợc lƣu thông với tƣ cách là hàng hóa của thị trƣờng. Sự phát triển của thị trƣờng chứng khoán làm nảy sinh nhiều loại chứng khoán khác nhau.
Tuy nhiên, chúng đều có những đặc điểm chung nhất: - Tính sinh lời: Mỗi loại chứng khoán đều là phƣơng tiện cất trữ của cải, bảo toàn vốn và có khả năng sinh lợi cho ngƣời nắm giữ chúng. Phần lớn chứng khoán có lợi ích kép, do hƣởng lãi suất và do giá cả trên thị trƣờng tăng lên. Tùy theo từng loại chứng khoán mà lợi ích này có thể nhiều hay ít, ổn định hay không ổn định. - Tính rủi ro: Rủi ro là yếu tố khó tránh trong đầu tƣ và kinh doanh.
Đó là việc không thu đƣợc lãi hoặc vốn đã bỏ ra ban đầu. Có những rủi ro chung cho tất cả các loại chứng khoán (rủi ro hệ thống - hay rủi ro thị trƣờng là loại rủi ro tác động tới toàn bộ hoặc hầu hết các tài sản. Loại rủi ro này chịu tác động của các điều kiện kinh tế chung nhƣ: lạm phát, sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất v.v) và cũng có những rủi ro riêng gắn liền với từng loại chứng khoán nhất định (rủi ro không hệ thống - Loại rủi ro này thƣờng liên quan tới điều kiện của nhà phát hành). Các chứng khoán khác nhau có mức độ rủi ro khác nhau.
- Tính hoán lệ: Tính hoán lệ của chứng khoán còn đƣợc gọi là tính “lỏng”, tính “lƣu thông”… đây là khả năng chuyển các chứng khoán thành tiền mặt một cách dễ dàng trong thời gian ngắn và không có rủi ro sụt giảm giá trị tiền tệ của chứng khoán đó. Thông thƣờng, các mã chứng khoán có nguy cơ rủi ro cao thì khả năng sinh lợi cao. Đây cũng chính là yếu tố hấp dẫn nhà đầu tƣ nắm giữ các chứng khoán có mức rủi ro dự kiến cao. Bên cạnh đó, cũng có không ít nhà đầu tƣ thƣờng chọn các chứng khoán có tính hoán lệ cao, bởi những 14 Luan van chứng khoán này thƣờng có lợi thế trong giao dịch và ngƣời nắm giữ có thể bán nó với thời gian ngắn nhất, ở mức độ hợp lý nhất.
Chứng khoán bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tƣ và các chứng khoán phái sinh. Nhìn chung không có loại chứng khoán nào có lợi thế tuyệt đối. Do đó, đầu tƣ vào loại chứng khoán nào còn tùy thuộc vào sự phân tích, đánh giá về mỗi loại chứng khoán và tâm lý của các nhà đầu tƣ Cổ phiếu: là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ chứng nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với tài sản và thu nhập của một công ty cổ phần. Cổ đông đƣợc hƣởng quyền với tƣ cách là ngƣời sở hữu một phần vốn của công ty theo mức độ tƣơng ứng với số lƣợng cổ phiếu nắm giữ.
Do vậy, cổ phiếu còn đƣợc gọi là chứng khoán vốn. Trái phiếu: là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, chứng nhận ngƣời sở hữu trái phiếu (trái chủ) đã cho ngƣời phát hành trái phiếu vay một số tiền nhất định, theo các điều kiện nào đó mà hai bên đã thỏa thuận. Thực chất phát hành trái phiếu là một hình thức vay nợ, ngƣời vay phát hành một chứng chỉ (hoặc ghi sổ) trong đó xác định số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất vay và phƣơng thức trả nợ. - Chứng chỉ quỹ đầu tƣ: Quỹ đầu tƣ là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tƣ với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tƣ vào chứng khoán và các loại tài sản đầu tƣ khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tƣ không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tƣ của quỹ.
Chứng chỉ quỹ đầu tƣ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tƣ đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng (là quỹ đầu tƣ chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng) 15 Luan van - Chứng khoán phái sinh: là những chứng khoán đƣợc hình thành trên cơ sở các chứng khoán gốc (cổ phiếu, trái phiếu) nhằm các mục tiêu khác nhau nhƣ: bảo vệ quyền lợi của ngƣời sở hữu chứng khoán gốc, phân tán rủi ro, bảo vệ hoặc tạo lợi nhuận. Chứng khoán phái sinh có nhiều loại nhƣ: quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tƣơng lai…. Thị trƣờng Chứng khoán 1. Khái niệm Thị trƣờng là mối quan hệ kinh tế tổng hợp của 5 thành tố: hàng hóa, cung cầu, giá cả, phƣơng thức giao dịch và thanh toán.
Do đó, nơi nào, lúc nào có đủ 5 thành tố thì nơi đó, khi đó diễn ra hoạt động của thị trƣờng. Có nhiều loại thị trƣờng khác nhau tùy theo tiêu thức phân chia. Căn cứ vào đối tƣợng giao dịch thì có thể kể tới các loại thị trƣờng nhƣ: thị trƣờng hàng hóa và dịch vụ, thị trƣờng sức lao động, thị trƣờng vàng, thị trƣờng ngoại tệ, thị trƣờng chứng khoán… Thị trƣờng chứng khoán: là “nơi” phát hành, giao dịch, mua bán chứng khoán. Việc mua bán này đƣợc tiến hành ở thị trƣờng sơ cấp, khi ngƣời mua mua đƣợc chứng khoán lần đầu từ những ngƣời phát hành chứng khoán và ở thị trƣờng thứ cấp, khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã đƣợc phát hành từ thị trƣờng sơ cấp[18] 1.
Đặc điểm, bản chất của thị trường Chứng khoán Thị trƣờng chứng khoán có những đặc điểm chủ yếu: - Thứ nhất: Thị trƣờng chứng khoán mà đại biểu tiêu biểu, phổ biến là thị trƣờng cổ phiếu đƣợc đặc trƣng bởi hình thức tài chính trực tiếp, những ngƣời có khả năng cung ứng vốn đều có thể điều chuyển vốn trực tiếp cho ngƣời cần vốn mà không cần thông qua các trung gian tài chính (ngân hàng, công ty tài chính, các tổ chức tài chính trung gian…) với tƣ 16 Luan van cách là một chủ thể riêng biệt, độc lập thực hiện huy động vốn nhằm đạt đƣợc những lợi ích riêng trong sản xuất kinh doanh. - Thứ hai: Thị trƣờng chứng khoán gần với thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo. Tất cả mọi ngƣời đều đƣợc tự do tham gia vào thị trƣờng nếu có nhu cầu và đáp ứng đƣợc các điều kiện, thủ tục của thị trƣờng. Không có sự áp đặt giá cả trên TTCK, giá cả đƣợc giao dịch trên thị trƣờng chứng khoán đƣợc xác định dựa trên quan hệ cung cầu của thị trƣờng, phản ánh các thông tin có liên quan đến chứng khoán – hàng hóa của thị trƣờng.
- Thứ ba: Thị trƣờng chứng khoán về cơ bản là thị trƣờng liên tục, sau khi các chứng khoán đƣợc phát hành trên thị trƣờng sơ cấp nó có thể đƣợc mua đi bán lại nhiều lần trên thị trƣờng thứ cấp. Nếu nhƣ trên hàng hóa thông thƣờng, sau khi kết thúc việc mua, bán thì hàng hóa đi vào tiêu dùng đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hoặc nhu cầu sinh hoạt của ngƣời mua. Ngƣợc lại, trên TTCK, chứng khoán sau khi đƣợc phát hành và niêm yết trên thị trƣờng thì luôn tồn tại trên thị trƣờng cùng với sự tồn tại của ngƣời phát hành. TTCK đảm bảo cho những ngƣời đầu tƣ có thể chuyển các chứng khoán của họ nắm giữ thành tiền nếu họ muốn.
Tuy nhiên thời gian chuyển đổi sẽ không giống nhau đối với các loại chứng khoán khác nhau. Chính những đặc điểm trên đây của Thị trƣờng chứng khoán đã tạo ra sự hấp dẫn của TTCK đối với các nhà phát hành, nhà đầu tƣ và kinh doanh chứng khoán. Đặc biệt đối với các nhà phát hành, TTCK là một kênh huy động vốn trung và dài hạn rất thuận lợi vì với đặc điểm “TTCK là thị trƣờng liên tục” đã tạo điều kiện cho các nguồn vốn ngắn hạn của nhà đầu tƣ trở thành nguồn vốn dài hạn của nhà phát hành. Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán - Căn cứ vào tính chất pháp lý, thị trƣờng chứng khoán gồm: 17 Luan van Thị trường chứng khoán tập trung đƣợc tổ chức thành Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịch chứng khoán đƣợc thực hiện tại một địa điểm tập trung.
Các chứng khoán đƣợc niêm yết giao dịch tại SGDCK thông thƣờng là chứng khoán của các công ty lớn, có danh tiếng, đã trải qua nhiều thử thách trên thị trƣờng và đáp ứng đƣợc các yêu cầu, tiêu chuẩn niêm yết do SGDCK đặt ra. SGDCK đƣợc tổ chức và quản lý một cách chặt chẽ bởi Ủy ban chứng khoán Nhà nƣớc (UBCKNN), các giao dịch chịu sự điều tiết của luật chứng khoán và thị trƣờng chứng khoán. Thị trường chứng khoán phi tập trung: Thị trƣờng chứng khoán phi tập trung là thị trƣờng không có trung tâm giao dịch tập trung, đó là một mạng lƣới các nhà môi giới và tự doanh chứng khoán mua bán với nhau và với các nhà đầu tƣ, các hoạt động giao dịch của thị trƣờng chứng khoán phi tập trung đƣợc diễn ra tại các quầy (sàn giao dịch) của các ngân hàng và công ty chứng khoán thông qua điện thoại hay máy vi tính diện rộng. Khối lƣợng giao dịch của thị trƣờng này thƣờng lớn hơn rất nhiều lần so với SGDCK.