CHƯƠNG 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nhân lực Xét trên tầm vĩ mô của nền kinh tế, theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân và ThS. Nguyễn Vân Điềm, Giáo trình Quản trị nhân lực (2015), Nxb Đại học Kinh tế quốc dân: “nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thể lực và trí lực” [32, Tr7] Và theo PGS.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh, Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực (2012), Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội: “nhân lực là sức lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người có đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động” [2,Tr 12] Xét trên góc độ vi mô, trong từng doanh nghiệp thì: Nhân lực được hiểu là “nguồn lực của mỗi con người được vận dụng trong quá trình lao động sản xuất” mà yếu tố tạo ra nguồn lực này gồm có kiến thức, kỹ năng và phẩm chất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất trong các doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp. Chất lượng nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lực Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) định nghĩa “Chất lượng là toàn bộ những tính năng và đặc điểm của một sản phẩm hoặc một dịch vụ thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và tiềm ẩn”.
Và người tạo nên chất lượng của sản 8 phẩm, dịch vụ đó, xét trong phạm vi hẹp một tổ chức thì là tất cả lực lượng lao động của tổ chức đó. Theo Tạ Ngọc Hải (2009), Viện khoa học tổ chức Nhà nước thì: “Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiềuyếu tố bộ phận như trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩmmỹ… của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng để xem xét và đánh giá chất lượng nguồn nhân lực”.TS Bùi Văn Nhơn (2010) thì: “Chất lượng nguồn nhân lực gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội trong đó:Thể lực của nguồn nhân lựclà sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần; Trí lực của nguồn nhân lực là trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng thực hành của người lao động; Phẩm chất tâm lý xã hội là kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiêp, có tinh thần trách nhiệm cao…”[21, Tr 27] Từ đó có thể nói: Chất lượng nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động đối với yêu cầu chức danh công việc của tổ chức/ doanh nghiệp mà người lao động đảm nhận. Khả năng làm việc của người lao động, ngoài yếu tố thể lực là tổng thể các yếu tố: Kiến thức, kỹ năng và phẩm chất nghề nghiệp đảm bảo thực hiện được vị trí, chức danh công việc mà người lao động đảm nhận.
Có thể thấy chất lương nhân lực là một khái niệm có nội hàm rất rộng, là một trong những yếu tố để đánh giá nhân lực. Chất lượng nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nhân lực bao gồm: thể lực, trí lực, tâm lực. Như vậy, nâng cao chất lượng nhân lực chính là tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát 9 triển nhất định của một quốc gia, một doanh nghiệp. Do đó, chất lượng nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thông qua chất lượng nhân lực thể hiện rõ trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, chất lượng cuộc sống của dân cư hay mức độ văn minh của một xã hội. Ngày nay, trên thế giới quá trình toàn cầu hóa mở rộng đã đưa nền kinh tế bước vào giai đoạn quá độ từ nền kinh tế dựa trên cơ sở vật chất, kỹ thuật là đại công nghiệp điện cơ khí hóa sang nền kinh tế tri thức, trong đó tri thức là lực lượng sản xuất trực tiếp, thì việc nâng cao chất lượng nhân lực phải luôn tiếp cận được kinh tế tri thức. Nâng cao chất lượng nhân lực là nền tảng và động lực, là giải pháp đột phá trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để nâng cao chất lượng nhân lực trong các doanh nghiệp, cần phải phát triển nâng lực của người lao động thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe vè thể lực và tinh thần, tạo điều kiện về môi trường làm việc tốt để người lao động mang hết sức mình hoàn thành các chức trách, nhiệm vụ được giao.
Để phát triển nhanh và bền vững, mỗi doanh nghiệp cần phải có chính sách phát huy tối đa nhân lực đó. Việc quản lý và sử dụng đúng nhân lực sau khi đã được đào tạo phù hợp với năng lực của mỗi cá nhân phục vụ cho các công việc cụ thể là nhân tố quyết định dẫn đến thành công của doanh nghiệp. Nói một cách khái quát nhất, nâng cao chất lượng nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân của mỗi con người. Do đó, để đánh giá chất lượng nhân lực thì cần phải xem xét đầy đủ các khía cạnh của chất lượng nhân lực, nhất là trong giai đoạn hiện nay.
Chất lượng nhân lực là toàn bộ năng lực nhân lực của tổ chức, được biểu hiện qua các yếu tố về thể lực, trí lực và tâm lực của nguồn nhân lực. Vì 10 vậy, nâng cao chất lượng nhân lực trong tổ chức, về khái niệm, đó chính là tăng cường sức mạnh và khả năng hoạt động sáng tạo. Nâng cao chất lượng nhân lực là tạo tiềm năng về trí thức thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng. còn nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đó chính là nâng cao sức khỏe ( sức bền, dẻo dai, chiều cao, cân nặng,.) nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp trong công việc và nâng cao tâm lực, tức là đạo đức nghề nghiệp, trình độ giao tiếp,.
của nhân lực. Các yếu tố cấu thành chất lượng nhân lực 1.Thể lực Thể lực là tình trạng sức khỏe của nhân lực bao gồm nhiều yếu tố cả về thể chất lẫn tinh thần và phải đảm bảo được sự hài hòa giữa bên trong và bên ngoài. Chất lượng nhân lựcđược cấu thành bởi năng lực tinh thần và năng lực thể chất, tức là nói đến sức mạnh và tính hiệu quả của những khả năng đó, trong đó năng lực thể chất chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của sức khỏe cơ bắp trong công việc; thể lực là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực; bởi nếu không chịu được sức ép của công việc cũng như không thể tìm tòi, sáng tạo ra những nghiên cứu, phát minh mới.
Thể lực của nhân lực được hình thành, duy trì và phát triển bởichế độ dinh dưỡng, chế độ chăm sóc sức khỏe. Vì vậy, thể lực của nhân lực phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội, phân phối thu nhập cũng như chính sách xã hội của mỗi quốcgia. Hiến chương của tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nêu: Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải là không có bệnh hoặc thương tật. Thể lực là sự phát triển hài hòa của con người cả về thể chất lẫn tinh thần (sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần).Thể lực là năng lực lao độngchân tay; sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành động thựctiễn.
Thể lực được phản 11 ánh bằng một hệ thống các chỉ tiêu cơ bản như: chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về tình hình bệnh tật, các chỉ tiêu về cơ sở vật chất và các điều kiện bảo vệ và chăm sóc sứckhỏe.Trí lực Nâng cao trí lực chính là việc nâng cao trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề, kinh nghiệm làm việc của người lao động. Trình độ học vấn và kiến thức chuyên môn mà nguồn nhân lực có được chủ yếu thông qua đào tạo, có thể được đào tạo về ngành học hoặc chuyên ngành đó trước khi đảm nhiệm công việc; đó là các cấp bậc học trung cấp, cao đẳng, đại học và trên đại học. Các bậc học này chủ yếu được đào tạo ngoài công việc và đào tạo lại trong công việc họ đang thực hiện thông qua các lớp tập huấn hay bồi dưỡng ngắn hạn về nghiệp vụ. Đó là sự trang bị kiến thức chuyên môn cho nguồn nhân lực.
Bất kỳ một vị trí nào của tổ chức đều yêu cầu thực hiện công việc ứng với trình độ chuyên môn nhất định. Do đó, việc trang bị kiến thức chuyên môn là không thể thiếu dù cho nguồn nhân lực đó được đào tạo theo hình thức nào. Kiến thức nhân lực có được thông qua nhiều nguồn khác nhau như: đào tạo, qua sự nhận thức các vấn đề trong cuộc sống xã hội mà nguồn nhân lực tiếp thu được. Con người không chỉ sử dụng kiến thức chuyên môn mà trong quá trình thực hiện công việc, còn cần dùng nhiều loại kiến thức khác nhau được tổng hợp, vận dụng vào sự thực hiện công việc thành kiến thức của nguồn nhânlực.
Kỹ năng nghề là khả năng nhân lực trong ứng xử và giải quyết công việc. Khả năng này được hiểu dưới hai khía cạnh và có thể khác nhau ở tùy từng đối tượng. Có thể các đối tượng này được đào tạo như nhau nhưng khả năng giải quyết công việc của đối tượng này ưu việt hơn, vượt trội hơn đối tượng khác. Điều đó được coi là có kỹ năng giải quyết công việc tốt hơn, có thể gọi đó là năng khiếu của nguồn nhân lực.
Khả năng này bộc lộ thông qua sự hiểu biết, nhận thức và rèn luyên để có kỹ năng giải 12 quyết công việc. Kỹ năng đó hình thành có sự trải nghiệm thực tế.