CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1. Khái quát về Bảo hiểm xã hội 1. Bảo hiểm Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu xã hội, pháp lý, kinh tế, kĩ thuật, nghiệp vụ. - Bảo hiểm là phương thức bảo vệ trước những tổn thất tài chính.
Đó là hình thức quản lý rủi ro, chủ yếu được sử dụng để bảo hiểm cho những rủi ro ngẫu nhiên hoặc tổn thất có thể xảy ra. Một doanh nghiệp cung cấp bảo hiểm được gọi là nhà bảo hiểm, công ty bảo hiểm. - Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho một người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.
Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được. Các định nghĩa trên thường thiên về một góc độ nghiên cứu nào đó (hoặc 11 thiên về xã hội - định nghĩa 1, hoặc thiên về kinh tế, luật pháp - định nghĩa 2, hoặc thiên về kỹ thuật tính - định nghĩa 3). Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước. Chính sách BHXH đã được thể chế hoá và được thực hiện dựa trên Luật.
Nhà nước đóng vai trò trung gian trong việc điều hòa mâu thuẫn giữa người lao động và người sử đụng lao động, bằng cách huy động sự đóng góp từ cả hai bên và Nhà nước cũng tham gia hỗ trợ. Từ đó đã hình thành quỹ BHXH nhằm sự chia sẻ rủi ro và bảo vệ người lao động khi họ không còn khả năng làm việc. Theo từng phương thức tiếp cận khác nhau mà BHXH có thể hiểu theo nhiều cách: - Theo Giáo sư Henri Kliler thuộc trường Đại học tổng hợp tự do Bruxelles của Bỉ đã đưa ra khái niệm và các nội dung về BHXH như sau: “BHXH là toàn bộ các luật và quy định nhằm bảo đảm cho người lao động hưởng lương (và người lao động tự do với một số hạn chế) cũng như gia đình họ (những người có quyền theo quy định) được hưởng trợ cấp khi họ ở trong hoàn cảnh hoặc mất toàn bộ hay một phần thu nhập từ lao động hoặc phát sinh những chi phí cần được hỗ trợ (như việc học hành của con cái và chăm sóc y tế) [3, tr. Theo đó, BHXH gồm có: Bảo hiểm y tế, bảo hiểm tàn tật, trợ cấp gia đình, thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo hiểm hưu trí và tử tuất, trợ cấp thất nghiệp.
- Theo Tổ chức Lao động Quốc tế: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp công cộng 12 nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già, chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” [4]. - Theo Luật BHXH Việt Nam năm 2014: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH” [5, tr. Như vậy, đối tượng của Bảo hiểm xã hội chính là sự giảm thu nhập do mất khả năng lao động, thất nghiệp của những người lao động tham gia đóng BHXH. Đồi tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử dụng lao động.
Tuy vậy, tuỳ theo sự phát triển kinh tế – xã hội cuả mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó. Quỹ BHXH dùng để chi trả các chế độ trợ cấp và quản lý chi phí được tạo nên từ việc đóng góp quỹ của người lao động, chủ doanh nghiệp và từ nguồn hỗ trợ Nhà nước. Quỹ BHXH tồn tại và phát triển dưới sự bảo hộ của Nhà nước. Các chế độ BHXH được xây dựng với mục đích là trợ cấp về mặt vật chất cho người tham gia bảo hiểm trong trường hợp họ gặp rủi ro theo như Luật đã quy định.
Bảo hiểm nhân thọ 13 Theo quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định: “Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hay chết.” Bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng giữa chủ hợp đồng bảo hiểm và công ty bảo hiểm, trong đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả cho người thụ hưởng (được chỉ định trước) một khoản tiền (lợi ích), khi cái chết của một người được bảo hiểm xảy ra (thường là người giữ hợp đồng bảo hiểm). Tùy thuộc vào hợp đồng, thanh toán cũng có thể được thực hiện khi có các sự kiện khác như bệnh nan y hoặc bệnh hiểm nghèo xảy ra. Chủ chính sách thường trả phí bảo hiểm định kỳ hoặc một lần. Các chi phí khác, chẳng hạn như chi phí tang lễ, cũng có thể được bao gồm trong các lợi ích người thụ hưởng.
Bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng pháp lý và các điều khoản của hợp đồng mô tả những hạn chế của các sự kiện được bảo hiểm. Các loại trừ cụ thể thường được ghi vào hợp đồng để giới hạn trách nhiệm của công ty bảo hiểm; ví dụ phổ biến là các yêu cầu liên quan đến tự sát, lừa đảo, chiến tranh, bạo loạn và hỗn loạn dân sự. Bảo hiểm nhân thọ hiện đại có một số điểm tương đồng với ngành quản lý tài sản và các công ty bảo hiểm nhân thọ đã đa dạng hóa sản phẩm của họ thành các sản phẩm hưu trí như thanh toán hàng năm. Bảo hiểm y tế Ra đời từ cuối thế kỷ XIX, BHYT là một trong những biện pháp hiệu quả nhất giúp đỡ mọi người khi gặp rủi ro về sức khỏe để trang bị phần nào chi phí khám chữa bệnh giúp ổn định đời sống góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
BHYT là một trong 9 nội dung của BHXH được quy định trong Công ước 102 ngày 14 28/6/1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH. Khái niệm BHYT, theo Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 1995, “là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân”. Theo Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2008: BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 13/6/2014: BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện.
Như vậy, BHYT là hình thức huy động nguồn lực tài chính của cộng đồng, dưới sự tổ chức và bảo hộ của Nhà nước, thực hiện nguyên lý chia sẻ rủi ro, lấy tài chính từ đóng góp của số đông người khỏe mạnh, bù đắp, trợ giúp thanh toán viện phí cho số ít người tham gia không may rủi ro đau ốm, đi khám chữa bệnh. BHYT vừa mang bản chất xã hội vì đó là loại hình bảo hiểm vì mục tiêu an sinh xã hội, thể hiện sự trợ giúp mang tính Nhà nước và sự tương hỗ mang tính cộng đồng. Song BHYT cũng mang yếu tố kinh tế, thuộc phạm trù kinh tế – y tế. Bảo hiểm thương mại Bảo hiểm thương mại là loại hình bảo hiểm được tạo ra bởi các doanh nghiệp bảo hiểm thông qua các hợp đồng bảo hiểm.
Người tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm đóng các khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để duy trì hợp đồng, và được công ty bảo hiểm có nghĩa vụ bồi thường khi xảy ra sự kiện như trong hợp đồng bảo hiểm. 15 Bảo hiểm thương mại (BHTM) là một cam kết giữa hai bên trên cơ sở hợp đồng (hợp đồng bảo hiểm) giữa bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm. Bên bảo hiểm (hay còn gọi là người bảo hiểm) có thể là một doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) là người cung cấp sự bảo đảm sẽ trả tiền hay bồi thường nếu sự kiện (hay rủi ro) được bảo hiểm xảy ra gây tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm. Bên được bảo hiểm là bên nhận được sự bảo đảm từ người bảo hiểm và đổi lại phải đóng phí bảo hiểm.
Thực chất, sẽ có ba chủ thể hiện diện khi nói đến bên được bảo hiểm, đó là người tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm. Cam kết bảo hiểm được thực hiện dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít, nghĩa là việc bồi thường hay trả tiền bảo hiểm của người bảo hiểm phải dựa vào một quĩ tài chính được hình thành từ các khoản phí bảo hiểm đã được nộp (quĩ bảo hiểm) bởi rất nhiều người tham gia bảo hiểm. Bản chất của Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện.
Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước. Mối quan hệ giữa cái bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXHvà bên được BHXH. Bên tham gia BHXH chỉ có thể là nguười lao động 16 hoặc cả người lao động và người sử dụng lao động.