CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG 1: Khái niệm và nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương 1.1: Khái niệm về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương - Tiền lương là khoản tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động mà họ đóng góp cho doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho người lao động đủ để tái sản xuất sức lao động và nâng cao, bồi dưỡng sức lao động. - Các khoản trích theo lương hiện nay bao gồm: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và bảo hiểm thất nghiệp. + BHXH là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH nhằm góp phần đảm bảo thu nhập cho ngưòi lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Quỹ này nhằm giúp đỡ người lao động về mặt tinh thần và vật chất trong các trường hợp như: bị ốm đau, thai sản, tai nạn hay mất sức lao động.
Hiện nay ở Việt Nam đang thực hiện các chế độ bảo hiểm sau: Trợ cấp ốm đau, thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp mất sức lao động, tàn tật, hưu trí với tỷ lệ trích như sau: - Quỹ BHXH trích 26% trong đó: + 18% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. + 8% còn lại do nhân viên trong công ty đóng góp trừ vào lương - Quỹ BHYT. + BHYT là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khoẻ, khám bệnh SVTH: Lê Thị Cẩm 3 Lớp KT17 Trường Đại Học Đông Đô GVHD: ThS. Bùi Thị Chanh và chữa bệnh cho nhân dân.
Người tham gia BHYT sẽ được hỗ trợ một phần kinh phí. + Quỹ BHYT được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tiền lương đóng bảo hiểm công ty quy định. Theo chế độ hiện hành, Công ty trích quỹ BHYT theo tỷ lệ như sau: - Quỹ BHYT trích 4,5% trong đó: + 3% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. + 1,5% còn lại do nhân viên trong công ty đóng góp trừ vào lương - Quỹ KPCĐ + Quỹ KPCĐ được thành lập để có nguồn kinh phí cho hoạt động công đoàn, hàng tháng doanh nghiệp phải trích 2% trên tổng số tiền lương phải trả cho người lao động và Công ty phải chịu toàn bộ tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
+ KPCĐ là nguồn tài trợ cho hoạt động công đoàn ở các cấp. Toàn bộ số kinh phí công đoàn trích được một phần nộp lên cơ quan công đoàn cấp trên, một phần để lại doanh nghiệp để chi tiêu cho hoạt động công đoàn của doanh nghiệp. Kinh phí công đoàn được trích lập để phục vụ chi tiêu cho hoạt động của tổ chức công đoàn nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho người lao động. - Quỹ BHTN BHTN là chính sách để người thất nghiệp nhanh chóng trở lại thị trường lao động, đồng thời chính sách BHXH nhằm hỗ trợ người thất nghiệp để thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị mất thu nhập do thất nghiệp.
Theo quy định của luật bảo hiểm xã hội thì mức đóng BHTN được quy định như sau : - Quỹ BHTN trích 2% trong đó: + 1% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. + 1% còn lại do nhân viên trong công ty đóng góp trừ vào lương 1.2: Nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương - Phải ghi chép, phản ánh kịp thời đầy đủ và chính xác về số lượng, chất lượng, thời gian và kết quả lao động của công nhân viên trong doanh nghiệp. Tính SVTH: Lê Thị Cẩm 4 Lớp KT17 Trường Đại Học Đông Đô GVHD: ThS. Bùi Thị Chanh đúng và thanh toán kịp thời, đầy đủ tiền lương và các khoản tiền thưởng, trợ cấp phải trả cho người lao động.
Kiểm tra việc sử dụng lao động và chấp hành các chính sách chế độ về lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Quản lý chặt chẽ việc sử dụng, chi, tiêu quĩ tiền lương. - Phải tính toán, phân bổ hợp lý, chính xác chi phì về tiền lương và các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT,BHTN, KPCĐ) cho các đối tượng sử dụng có liên quan. - Định kỳ tiến hành phân tích tình hình lao động, sử dụng lao động, tình hình quản lý và chi tiêu quĩ tiền lương cung cấp các thông tin để từ đó đề ra biện pháp khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động, tăng năng suất lao động, ngăn ngừa các vi phạm kỷ luật lao động.3: Phân loại công nhân viên trong doanh nghiệp Trong doanh nghiệp, công nhân viên được chia làm bốn loại như sau: - Công nhân trực tiếp sản xuất là những người lao động trực tiếp vận hành máy móc thiết bị để sản xuất ra sản phẩm.
- Nhân viên quản lý phân xưởng là những người làm việc gián tiếp ở phân xưởng sản xuất sản phẩm. - Nhân viên bán hàng là những người lao động tham gia phục vụ công tác bán hàng. - Nhân viên quản lý doanh nghiệp là toàn bộ những người tham gia vào việc quản lý và điều hành chung toàn bộ doanh nghiệp như Ban giám đốc, nhân viên các phòng ban, tài xế,… 2: Các hình thức tiền lương Tiền lương trả cho người lao động phải dựa theo nguyên tắc phân phối theo lao động, trả lương theo số lượng và chất lượng lao động. Việc trả lương cho người lao động có ý nghĩa trong việc động viên khuyến khích người lao động phát huy tinh thần làm việc, thúc đẩy họ hăng say lao động, nâng cao năng suất lao động nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho thành viên trong xã hội.
Hiện nay, có hai hình thức trả lương cho người lao động là lương theo thời gian và lương theo sản phẩm. SVTH: Lê Thị Cẩm 5 Lớp KT17 Trường Đại Học Đông Đô GVHD: ThS. Bùi Thị Chanh 2.1: Tiền lương trả theo thời gian Là hình thức tiền lương tính theo thời gian làm việc, cấp bậc kỹ thuật và thang lương của người lao động. Theo hình thức này tiền lương thời gian phải trả được tính bằng thời gian làm việc nhân với mức lương thời gian.
Tiền lương thời gian với đơn giá tiền lương cố định được gọi là tiền lương thời gian giản đơn. Tiền lương thời gian giản đơn có thể kết hợp với chế độ tiền lương thưởng để khuyến khích người lao động hăng hái làm việc, tạo nên tiền lương thời gian có thưởng. Để áp dụng trả lương theo thời gian, doanh nghiệp phải theo dõi ghi chép thời gian làm việc của người lao động và có mức lương thời gian. Các doanh nghiệp chỉ áp dụng tiền lương thời gian cho những việc chưa xây dựng được định mức lao động, chưa có đơn giá tiền lương sản phẩm.
Tiền lương thời gian thường áp dụng cho lao động làm công tác văn phòng như hành chính, quản trị, thống kê, tổ chức lao động, kế toán tài vụ. Hình thức tiền lương thời gian có nhiều hạn chế. Đó là chưa đảm bảo nguyên tắc phân phối cho lao động vì chưa tính đế chất lượng lao động không khuyến khích được người lao động quan tâm đến kết quả lao động. Chưa gắn chặt tiền lương theo kết quả và chất lượng lao động.
Công thức tính: - Mức lương tháng Mức lương tháng = mức lương tối thiểu x hệ số lương x hệ số khác ( nếu có) Trong đó: Mức lương tối thiểu được nhà nước quy định theo từng thời điểm Hệ số lương : theo khung bậc lương nhà nước và doanh nghiệp quy định Hệ số khác như hệ số trách nhiệm, trượt giá, … - Tiền lương phải trả trong ngày: Là tiền lương trích cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng Mức lương tháng Tiền lương ngày = Số ngày làm việc theo quy định của 1tháng - Tiền lương phải trả trong tháng SVTH: Lê Thị Cẩm 6 Lớp KT17 Trường Đại Học Đông Đô GVHD: ThS. Bùi Thị Chanh Tiền lương tháng = Tiền lương ngày x số ngày làm việc thực tế của người người lao động trong 1tháng - Tiền lương phải trả trong tuần Mức lương tháng x 12 tháng Tiền lương tuần = 52 tuần 2.2: Tiền lương theo sản phẩm Đây là hình thức tiền lương tính theo khối lượng (số lượng) sản phẩm, công việc đã hoàn thành đảm bảo yêu cầu chất lượng qui định và đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm, công việc đó. Tiền lương sản phẩm được tính bằng số lượng (khối lượng) sản phẩm, công việc hoàn thành đủ tiêu chuẩn chất lượng nhân với đơn giá tiền lương sản phẩm. Việc tính toán tiền lương sản phẩm phải dựa trên cơ sở các tài liệu về hạch toán kết quả lao động theo khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành và đơn giá tiền lương sản phẩm mà doanh nghiệp áo dụng đối với từng loại sản phẩm hay công việc.
Nhưng tuỳ theo yêu cầu quản lý về chất lượng sản phẩm và mối quan hệ giữa kết quả lao động với người lao động thì doanh nghiệp có thể áp dụng các hình thức tiền lương sản phẩm sau: - Tiền lương sản phẩm trực tiếp: là hình thức tiền lương trả cho người lao dộng được tính theo số lượng sản phẩm hoàn thành đúng tiêu chuẩn (qui cách), phẩm chất và đơn giá tiền lương sản phẩm đã qui định. Đây là hình thức trả lương được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến để tính lương trả cho công nhân trực tiếp sản xuất Tiền lương = Khối lượng sản phẩm x đơn giá tiền lương sản phẩm trực tiếp đạt tiêu chuẩn qui định sản phẩm trực tiếp - Tiền lương sản phẩm gián tiếp: được áp dụng để trả lương cho công nhân làm các công việc phục vụ sản xuất ở các phân xưởng sản xuất như công nhân vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết bị. Căn cứ vào kết quả lao động của công nhân trực tiếp sản xuất và người phụ việc đã phục vụ để tính trả lương sản phẩm gián tiếp. Được áp dụng cho công nhân phụ việc.
SVTH: Lê Thị Cẩm 7 Lớp KT17 Trường Đại Học Đông Đô GVHD: ThS.