CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG. KHÁI NIỆM VÀ NHIỆM VỤ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG. Khái niệm và phân loại lao động. - Lao động là quá trình hoạt động trí óc và chân tay của con người nhằm mục đích tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người trong sinh hoạt hàng ngày.
Phân loại lao động. - Căn cứ vào quy mô, quy trình công nghệ và tình hình thực tế của từng doanh nghiệp mà chúng ta có những tiêu thức để phân loại lao động trong một doanh nghiệp. - Phân loại lao động theo thời gian. + Lao động trong danh sách: Là những lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động dài hạn được ký kết từ 1 năm trở lên.
Bao gồm toàn bộ số lao động doanh nghiệp trực tiếp quản lý, sử dụng và trả lương, không kể họ tham gia trực tiếp sản xuất hay gián tiếp sản xuất ra sản phẩm. + Lao động ngoài danh sách: Là những lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động thời vụ, được ký kết dưới 1 năm. Đó là những lao động nhận gia công hay làm khoán một khối lượng công việc cho doanh nghiệp và doanh nghiệp chỉ trả lương khoán theo khối lượng công việc hoàn thành hoặc không trả lương cho họ vì họ làm việc cho doanh nghiệp nhưng đã có tổ chức khác đã trả lương cho họ. Số lao động doanh nghiệp không quản lý.
Tác dụng của việc phân loại lao động này: Cách phân chia loại này giúp cho việc lập kế hoạch lao động, là cơ sở để doanh nghiệp mở sổ sách lao động và theo dõi bồi dưỡng đội ngũ lao động. - Phân loại lao động theo quan hệ với quá trình sản xuất: + Lao động trực tiếp (nhân công trực tiếp): Là những người trực tiếp lao động sản xuất tạo ra sản phẩm. Đây là lực lượng chính và chủ yếu của doanh nghiệp như nhân công lao động. + Lao động gián tiếp: Bao gồm cán bộ quản lý, nhân viên quản lý hành chính, nhân viên làm công tác kế toán tài chính, kế hoạch kinh doanh, quản đốc, phó quản đốc, tổ trưởng, nhân viên kiểm tra chất lượng hàng hóa.
GVHD: Nghiêm Phúc Hiếu Page 2 Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương Tác dụng của phân loại lao động này: Là tạo điều kiện hạch toán chính xác và quản lý chặt chẽ các lao động, tổ chức một cách khoa học các loại lao động phù hợp với yêu cầu thực tế phục vụ sản xuất, nâng cao năng suất lao động và phân bổ chi phí tiền lương vào các đối tượng chịu chi phí một cách chính xác. Khái niệm, ý nghĩa và các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương và các khoảng trích theo lương trong sản xuất kinh doanh. Tiền lương Khái niệm: Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người lao động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh và được thanh toán theo kết quả lao động cuối cùng. - Tiền lương của người lao động được xác định theo hai cơ sở chủ yếu là chất lượng và số lượng lao động của mỗi người.
Tiền lương được hình thành có tính đến kết quả lao động của từng cá nhân, của tập thể và của xã hội, nó có quan hệ trực tiếp đến việc thực hiện lợi ích cá nhân của người lao động. Qua mối quan hệ phụ thuộc này cho phép thấy được vai trò của tiền lương là công cụ tác động của công tác quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Ý nghĩa của tiền lương: - Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động và nó có ý nghĩa hết sức quan trọng, vừa là một yếu tố chi phí cấu thành nên giá trị các loại sản phẩm, lao động dịch vụ. Do đó việc chi trả tiền lương hợp lý, phù hợp có tác dụng thúc đẩy người lao động yêu nghề tận tâm với công việc, năng động, hăng say trong công việc, tăng năng suất lao động, đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Các doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả sức lao động nhằm tiết kiệm chi phí tăng tích luỹ cho đơn vị. Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương: - Tất cả mọi lao động đều muốn mình có mức thu nhập từ tiền lương ổn định và khá nhưng thực tế có rất nhiều nhân tố chủ quan cũng như khách quan ảnh hưởng trực tiếp tới tiền lương của họ như một số nhân tố sau: + Do còn hạn chế về trình độ cũng như năng lực. + Do tuổi tác và giới tính không phù hợp với công việc. GVHD: Nghiêm Phúc Hiếu Page 3 Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương + Làm việc trong điều kiện thiếu trang thiết bị.
+Vật tư, vật liệu bị thiếu hoặc kém phẩm chất. + Sức khoẻ của người lao động không được bảo đảm. +Làm việc trong điều kiện địa hình và thời tiết không thuận lợi. Các khoản trích theo lương.
- Bao gồm: + Bảo hiểm xã hội. + Bảo hiểm y tế. + Kinh phí công đoàn. Bảo hiểm y tế - Là khoản tiền hàng tháng người sử dụng lao động và người lao động trong quá trình tham gia sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp đóng cho Qũy bảo hiểm y tế theo chế độ quy định.
Quỹ này dùng vào mục đích khám chữa bệnh cho người lao động. - Quỹ bảo hiểm y tế được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ 4,5% trên tổng tiền lương phải trả cho công nhân viên, trong đó: + Người sử dụng lao động phải chịu 3% trên tổng quỹ lương của những người tham gia bảo hiểm xã hội. 3% BHYT này người sử dụng lao động được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong tháng. + Người lao động chịu 1,5% bằng cách khấu trừ vào lương của họ.
Tiền lương để làm căn cứ tính BHYT gồm tiền lương theo ngạch chức vụ, hợp đồng và các khoản phụ cấp. - Toàn bộ 4,5% trích được doanh nghiệp nộp hết cho công ty BHYT hoặc Thành phố. Quỹ này dùng để mua BHYT cho công nhân. Bảo hiểm xã hội - Là khoản tiền hàng tháng người sử dụng lao động và người lao động trong quá trình tham gia sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp đóng cho Quỹ bảo hiểm xã hội theo chế độ quy định.
Quỹ này dùng vào mục đích trợ cấp cho người lao động trong trường hợp nghỉ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản khó khăn, mất việc, nghỉ hưu…… - Theo chế độ hiện hành quỹ BHXH được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ 24% trên tổng tiền lương phải trả cho công nhân viên trong từng kỳ kế toán, trong đó: GVHD: Nghiêm Phúc Hiếu Page 4 Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương + Người sử dụng lao động phải đóng 17% trên tổng quỹ tiền lương của những người tham gia bảo hiểm xã hội. 17% BHXH này người sử dụng lao động được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong tháng. + Người lao động phải chịu 7% trên tổng quỹ luơng bằng cách khấu trừ vào lương của họ. Tiền lương để làm căn cứ đóng BHXH gồm tiền lương theo ngạch chức vụ, hợp đồng và các khoản trợ cấp.
Kinh phí công đoàn - Là khoản tiền người sử dụng lao động đóng cho cơ quan công đoàn quản lý. Quỹ này dùng vào mục đích phục vụ nhu cầu sinh hoạt, vui chơi, giải trí cho người lao động. - Quỹ kinh phí công đoàn được hình thành từ các nguồn sau: + Người sử dụng lao động phải đóng 2% trên tổng quỹ lương thực tế phải trả cho người lao động trong tổng doanh nghiệp. 2% kinh phí công đoàn này người sử dụng lao động được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong tháng.
Tiền lương để làm căn cứ đóng kinh phí công đoàn là tiền lương thực trả cho người lao động. Ngoài ra tùy tình hình từng doanh nghiệp người lao động có thể đóng 1% đoàn phí trên tiền lương thực nhận. + Người lao động phải chịu 7% trên tổng quỹ luơng bằng cách khấu trừ vào lương của họ. Tiền lương để làm căn cứ đóng BHXH gồm tiền lương theo ngạch chức vụ, hợp đồng và các khoản trợ cấp.
Nhiệm vụ kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương. - Kế toán cần thực hện các nhiệm vụ sau: + Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp một cách trung thực, kịp thời, đầy đủ tình hình hiện có và sự biến động về số lượng và chất lượng lao động, tình hình sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động. + Tính toán chính xác, kịp thời, đúng chính sách, chế độ các khoản tiền lương, tiền thưởng, các khoản trợ cấp phải trả cho người lao động. + Thực hiện việc kiểm tra tình hình huy động và sử dụng lao động, tình hình chấp hành các chính sách, chế độ về lao động tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ và tình hình sử dụng các quỹ trên.
GVHD: Nghiêm Phúc Hiếu Page 5 Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương + Tính toán và phân bổ chính xác, đúng đối tượng các khoản tiền lương, khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh. + Lập các báo cáo về lao động, tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ thuộc phạm vi trách nhiệm của kế toán. Tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao động, quỹ tiền lương, quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ. CÁC HÌNH THỨC TIỀN LƯƠNG VÀ QUỸ LƯƠNG.
Các hình thức tiền lương. -Hiện nay, việc tính trả lương cho người lao động được tiến hành theo hai hình thức chủ yếu: hình thức tiền lương theo thời gian và hình thức tiền lương theo sản phẩm. Hình thức trả lương theo thời gian. - Tiền lương tính theo thời gian là tiền lương tính trả cho người lao động theo thời gian làm việc, cấp bậc công việc và thang lương cho người lao động.
Tiền lương tính theo thời gian có thể thực hiện tính theo tháng, ngày hoặc giờ làm việc của người lao động tuỳ theo yêu cầu và trình độ quản lý thời gian lao động của doanh nghiệp. Trong mỗi thang lương, tuỳ theo trình độ thành thạo nghiệp vụ, kỹ thuận chuyên môn và chia làm nhiều bậc lương, mỗi bậc lương có một mức tiền lương nhất định. + Ưu điểm: đơn giản, dễ tính toán. + Nhược điểm: chưa chú ý đến chất lượng lao động, đồng thời chưa gắn với kết quả lao động cuối cùng, do đó năng suất lao động không cao.
Hình thức này áp dụng với những công việc chua định mức được, công việc tự động hoá cao đòi hỏi chất lượng cao. Các loại tiền lương theo thời gian.