CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ VỀ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC CỦA NGÂN HÀNG TH ƯƠNG MẠI 1. Chất lượng nhân lực ngân hàng thương mại: khái niệm, đặc điểm và tầm quan trọng 1. Khái niệm nhân lực Ngân hàng Về cơ bản, nhân lực của một Quốc gia hay của một ngành là tổng thể những tiềm năng lao động của con người có trong một thời kỳ nhất định phù hợp với kế hoạch và chiến lược phát triển (có thể tính cho 1 năm, 5 năm, 10 năm). Tiềm năng đó bao hàm tổng hòa tiềm năng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động có thể đáp ứng một cơ cấu lao động cho nền kinh tế - xã hội nhất định hay cho một tổ chức nào đó.
Trong nhiều năm trước đây, khái niệm “lực lượng lao động” được sử dụng rất phổ biến và có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam chúng ta có một lực lượng lao động dồi dào (do tính theo khái niệm người trong độ tuổi lao động). Khái niệm nhân lực theo nghĩa mới có tính đến chi tiết hơn những yếu tố nội tại bên trong của lực lượng lao động và chính vì vậy, khi đặt trong bối cảnh cạnh tranh chung của các nước trong khu vực, với Trung Quốc, nhân lực nước ta đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế. Hàng năm chúng ta có hàng vạn sinh viên tốt nghiệp ra trường, trong khi đó nhiều doanh nghiệp không tìm được người đủ yêu cầu để tuyển dụng. Vì vậy, với cơ cấu chất lượng của lực lượng lao động hiện nay, chúng ta cần xác định nhân lực của chúng ta như thế nào và xây dựng kế hoạch phân bổ một cách hợp lý giống như các nhà tài chính phân bổ ngân sách nhà nước cho các khu vực khác nhau của nền kinh tế.
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một '' tài nguyên đặc biệt '', một nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự 9 phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững.
Như vậy, nhân lực của một tổ chức chính là lực lượng lao động mà tổ chức có thể thu hút và sử dụng để đáp ứng được đòi hỏi của tổ chức (về mục tiêu của tổ chức; loại sản xuất. Lao động xã hội có rất nhiều, hàng năm bổ sung hơn 1,5 triệu người vào thị trường lao động trong đó có nhân lực cho ngành ngân hàng. Nhân lực trong ngành ngân hàng là đội ngũ những người làm công tác tín dụng, giao dịch viên, quản lý rủi ro, quản trị tín dụng , kế hoạch tổng hợp, tài chính kế toán , tổ chức hành chính. Những người thực hiện nghiệp vụ Ngân hàng đến với khách hàng.
Đặc điểm chất lượng nhân lực Ngân hàng Chất lượng nhân lực có hàm nghĩa rất rộng. Đối với từng cá nhân đó là những khả năng về sức khỏe, trình độ văn hoá, chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật và thói quen lao động. Chất lượng nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu định tính về tình trạng phát triển thể lực, trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, trình độ quản lý, cơ cấu về tuổi, giới tính, phẩm chất đạo đức, tác phong và kỷ luật của nhân lực nói chung, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói riêng. Chất lượng nhân lực được biểu hiện trên các mặt: thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, tác phong và ý thức tổ chức kỷ luật, có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó thể lực là nền tảng, là cơ sở để phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn.
Từ đó, chất lượng nhân lực ngân hàng được hiểu là tổng thể những yếu tố về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức và sức khỏe của người cán bộ để thực hiện các nhiệm vụ của ngân hàng Ngân hàng là một nghề, một ngành quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội, ngoài pháp luật ra, cũng như các ngành nghề khác, nó luôn phải được điều chỉnh bởi những tiêu chí đạo đức nghề nghiệp. Chức năng giáo dục trong Ngân hàng là hết sức lớn và là một trong những chức năng qui định tất yếu khiến chúng ta phải quan tâm đặc biệt đến vấn đề giáo 10 dục, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ ngành Ngân hàng, đặc biệt đối với cán bộ tín dụng, dịch vụ. Sẽ không có hoạt động Ngân hàng đúng đắn, lành mạnh một khi vấn đề đạo đức nghề nghiệp không được coi trọng. Để có được sản phẩm dịch vụ ngân hàng có chất lượng thì trình độ cán bộ Ngân hàng phải không ngừng được nâng lên đồng thời cả về chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống.
Chất lượng nhân lực trong ngân hàng là một sự tổng hợp, kết tinh của rất nhiều yếu tố và giá trị cùng tham gia tạo nên. Trong đó, gồm ba yếu tố bản: thể lực, trí lực và tâm lực. Trí lực là năng lực trí tuệ, khả năng nhận thức và tư duy mang tính sáng tạo thích ứng với xã hội của cán bộ quan hệ khách hàng, giao dịch viên. Nói đến trí lực là nói đến yếu tố tinh thần, trình độ văn hoá và học vấn, biểu hiện ở khả năng vận dụng những điều kiện vật chất, tinh thần vào hoạt động thực tiễn nhằm đạt hiệu quả cao, đồng thời là khả năng định hướng giá trị hoạt động của bản thân để đạt được mục tiêu.
Trí lực là yếu tố chiếm vị trí trung tâm chỉ đạo hành vi của con người trong mọi hoạt động, kể cả trong việc lựa chọn các giải pháp phù hợp nhằm phát huy tác dụng của các yếu tố khác trong cấu trúc chất lượng nguồn nhân lực. Trí lực là yếu tố quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người. Tâm lực là những giá trị chuẩn mực đạo đức, phẩm chất của cán bộ quan hệ khách hàng, giao dịch viên , được biểu hiện trong thực tiễn công tác Tín dụng, thanh toán. Những giá trị đó gắn liền với năng lực tư duy và hành động cụ thể của con người, tạo nên chất lượng của nhân lực.
Tâm lực tạo ra động cơ bên trong của chủ thể, thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của con người. Nói cách khác, tâm lực góp phần vào việc phát huy vai trò của các yếu tố thể lực và trí lực của con người. Thể lực là cơ sở quan trọng cho hoạt động thực tiễn của cán bộ làm công việc quan hệ khách hàng, giao dịch viên. có thể đáp ứng được những đòi hỏi về hao phí sức lao động trong quá trình hoạt và đảm bảo cho con người có khả năng làm việc.
Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nhân lực trong hoạt động Ngân hàng trong điều kiện hiện nay 1. Nâng cao chất lượng nhân lực là yêu cầu cấp bách trong điều kiện kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nâng cao chất lượng nhân lực là sự biến đổi về chất lượng nhân lực biểu hiện qua các mặt thể lực, trình độ, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cần thiết cho những công việc theo yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Nhờ đó, nâng cao được năng lực của người lao động ổn định được công ăn việc làm, nâng cao địa vị kinh tế - xã hội của họ.
Nâng cao chất lượng nhân lực quản lý ở tầm vĩ mô là các hoạt động nhằm tạo ra nhân lực có khả năng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến trong mỗi giai đoạn phát triển. Thực chất, nâng cao chất lượng nhân lực là qúa trình tổ chức đào tạo nâng cao thể lực, trí lực, kỹ năng, thói quen và thái độ của người lao động. Nâng cao chất lượng nhân lực là nhằm tạo ra quy mô chất lượng và cơ cấu ngày càng phù hợp với nhu cầu về lao động phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội. Số lượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực luôn gắn bó với nhau và tác động lẫn nhau.
Về mặt số lượng là tăng nhân lực (con người). Về mặt chất lượng bao gồm sức khoẻ, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và các phẩm chất cá nhân. Về cơ cấu bao gồm tỷ lệ cấu thành số lượng, chất lượng giữa các loại lao động, mối tương quan, quan trọng nhất là tỷ lệ giữa đại học, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật lành nghề. Ở nước ta hiện nay, việc nâng cao chất lượng nhân lực là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản phát triển xã hội tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững.
Ở góc độ lao động - xã hội, nâng cao chất lượng nhân lực là việc nâng cao dân trí, phát triển giáo dục, đào tạo để nâng cao năng lực tiếp thu và làm chủ công nghệ. Nhập khẩu công nghệ nước ngoài nhưng không có khả năng tiếp thu công nghệ một cách hiệu quả thì không có tác dụng phát triển kinh tế. Thực tiễn cho thấy, 12 để thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hoá chúng ta phải thu hút được công nghệ hiện đại từ bên ngoài, muốn vậy chúng ta phải luôn nâng cao chất lượng nhân lực, nâng cao năng lực tiếp thu công nghệ và hoàn chỉnh công nghệ đó trong điều kiện hoàn cảnh của đất nước ta để phát huy hiệu quả cao hơn. Tiếp thu và làm chủ công nghệ cần phát huy và giải quyết hai vấn đề cơ bản: Phát triển nhân lực và đẩy mạnh công tác nghiên cứu và triển khai.
Để nâng cao chất lượng nhân lực, trước hết công tác giáo dục - đào tạo phải là yêu cầu cấp bách hàng đầu. Đây là công việc lâu dài liên tục cho cả quá trình phát triển của đất nước.