phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 phần : Phần 1 : Cơ sở lý luận về chất lượng nhân lực cho hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường. Phần 2 : Phân tích thực trạng chất lượng nhân lực của công ty Truyền tải điện1. Phần 3 : Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực của công ty Truyền tải điện1. - 11 - PhÇn 1: C¬ së lý luËn vÒ ChÊt lîng nh©n lùc doanh nghiÖp trong kinh tÕ thÞ trêng.
ChÊt lîng nh©n lùc ®èi víi hiÖu qu¶ ho¹t ®éng cña doanh nghiÖp trong kinh tÕ thÞ trêng. Nhân lực của doanh nghiệp ( Theo GS,TS Đỗ Văn Phức - Quản lý nhân lực của doanh nghiệp - NXB KHKT 2005) là toàn bộ những khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh. Nhân lực của doanh nghiệp còn gần nghĩa với sức mạnh của lực lượng lao động; sức mạnh của đội ngũ người lao động; sức mạnh của đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức (CBCNVC) của doanh nghiệp. Sức mạnh đó là sức mạnh hợp thành từ sức mạnh của các loại người lao động, sức mạnh hợp thành từ khả năng lao động của từng người lao động.
Khả năng lao động của một con người là khả năng đảm nhiệm, thực hiện, hoàn thành công việc bao gồm các nhóm yếu tố; sức khoẻ ( nhân trắc, độ lớn và mức độ dai sức…), trình độ (kiến trúc và kỹ năng, kinh nghiệm), tâm lý, mức độ cố gắng… Trong kinh tế thị trường không cần biên chế, nhân lực của doanh nghiệp là sức mạnh hợp thành các loại khả năng lao động của những người giao kết, hợp đồng làm việc cho doanh nghiệp. Các loại khả năng lao động đó phù hợp với nhu cầu đến đâu, đồng bộ từ khâu lo đảm bảo việc làm, lo đảm bảo tài chính, lo đảm bảo công nghệ, lo đảm bảo vật tư, lo tổ chức sản xuất… đến đâu chất lượng nhân lực của doanh nghiệp cao đến đó, mạnh đến đó. Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp ( Theo GS,TS Đỗ Văn Phức - Quản lý nhân lực của doanh nghiệp - NXB KHKT 2005) là mức độ đáp ứng nhu cầu về toàn bộ và cơ cấu các loại nhân lực. Nhân lực của doanh nghiệp là đầu vào độc lập.
Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp là nhân tố quyết định chủ yếu chất lượng, chi phí, thời hạn của các đầu vào khác; quyết định chất lượng, chi phí, thời gian của - 12 - các sản phẩm trung gian, sản phẩm bộ phận và của sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp. Điều đó hoàn toàn được khẳng định bởi vì : tất cả các hoạt động của doanh nghiệp do con người thực hiện và quay lại phục vụ cho con người. Con người phân tích, dự báo nhu cầu thị trường, các đối thủ cạnh tranh quyết định chiến lược, kế hoạch, phương án kinh doanh: sản phẩm - khách hàng với chất lượng và số lượng xác định; con người sáng tạo, chuyển giao công nghệ, vận hành máy móc, thiết bị và không ngừng cải tiến, hiện đại hóa máy móc, thiết bị; con người xác định nhu cầu vốn, nhu cầu vật tư, nhu cầu lao động và tổ chức việc đảm bảo các đầu vào quan trọng đó… Nhµ níc Thêi bao ¸p ®Æt cÊp Cung øng - KÕ ho¹ch Ph©n phèi - Biªn chÕ - Quü l¬ng… Nguyªn vËt liÖu Doanh Tµi s¶n cè ®Þnh nghiÖp S¶n phÈm s¶n xuÊt c«ng Nh©n lùc nghiÖp Tµi s¶n v« h×nh Thêi kinh tÕ thÞ trêng C¹nh tranh mua ChÕ biÕn C¹nh tranh b¸n c¸c yÕu tè ®Çu vµo ®Çu ra Ở các doanh nghiệp thường có các loại khả năng lao động như sau: Theo tính chất của lao động, hoạt động của doanh nghiệp được tách lập, phân định thành: loại lao động trực tiếp kinh doanh (sản xuất hoặc mua, bán hàng hóa), quản lý kinh doanh và phục vụ cho những quản lý và cho những người trực tiếp - 13 - kinh doanh. Khả năng lao động của doanh nghiệp theo cách phân loại này phải có lượng và chất lượng đáp ứng, phù hợp với yêu cầu thực tế hiện tại, tương lai.
Ba loại người này phải có quan hệ tỷ lệ (cơ cấu) hợp lý, có sức mạnh hợp thành lớn nhất. Theo giai đoạn của quá trình hoạt động của doanh nghiệp được tách lập, phân định thành: loại nghiên cứu đưa ra các ý tưởng, thiết kế và thi công. Khả năng lao động của doanh nghiệp theo cách phân loại này phải có lượng và chất đáp ứng, phù hợp với yêu cầu thực tế hiện tại, tương lai. Ba loại người này phải có quan hệ tỷ lệ (cơ cấu) hợp lý, có sức mạnh hợp thành lớn nhất.
Ngoài ra người ta còn phân loại khả năng lao động của doanh nghiệp theo các dấu hiệu; giới tính, độ tuổi, trình độ chuyên môn… Doanh nghiệp trong kinh tế thị trường cần đặc biệt quan tâm đầu tư (chính sách thu hút và sử dụng hấp dẫn hơn các đối thủ cạnh tranh)để có bộ ba nhân lực mạnh đồng bộ là: chuyên gia quản lý chiến lược và quản lý điều hành; chuyên gia công nghệ; thợ lành nghề. Đây là ba lực lượng có trình độ cao, là trụ cột của doanh nghiệp khi được tạo động cơ làm việc đúng đắn và mạnh mẽ họ sẽ tạo ra và áp dụng nhiều sản phẩm sáng tạo ở cả ba khâu làm cho sức mạnh cạnh tranh của sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp tăng nhanh, mạnh và bền vững. Mỗi lĩnh vực hoạt động, công việc của mỗi loại người lao động ở doanh nghiệp có một số đặc điểm (điểm đặc thù). Người công nhân (thợ) ở công ty cơ khí chế tạo khi vận hành máy móc thực hiện nguyên công công nghệ thường phải tập trung chú ý cao độ, phải phối hợp nhịp nhàng hoạt động của mắt, của óc và của tay, phải quan sát phân biệt hàng chục đối tượng vật chất khác nhau cùng một lúc, có khi phải gắng lực cơ bắp để nâng chuyển, kéo, đẩy, vặn tới hàng chục ki lô gram; phải thực hiện đồng thời một lúc nhiều động tác với tốc độ cao, trong một không gian không hoàn toàn thuận tiện; nhiều khi phải tự hình thành phương pháp gia công (chương trình hành động), phải thực hiện một số phép tính, suy luận; phải hiểu biết đặc điểm, tính năng của vật tư, dao cụ, đồ gá, thiết bị.v… Ở doanh nghiệp người chủ (Hội đồng quản trị, giám đốc) phải giải quyết các vấn đề như: - 14 - 1.
Lựa chọn chiến lược, phương án kinh doanh 2. Mua, bán, chuyển nhượng và thanh lý tài sản trị giá lớn. Ký kết các hợp đồng quan trọng. Những vấn đề liên quan đến kiện tụng, tranh chấp quan trọng.
Những vấn đề về tổ chức bộ máy, tổ chức cán bộ… Trong kinh tế thị trường doanh nghiệp hoạt động là tìm cách, biết cách đầu tư các nguồn lực cạnh tranh với các đối thủ thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Hoạt động của doanh nghiệp cũng như hoạt động bất kỳ nào khác của con người có mục đích đạt hiệu quả cao nhất có thể. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ( hiệu quả kinh doanh – HQKD) là kết quả tương quan, so sánh tất cả các lợi ích mà doanh nghiệp thu được với tất cả tài sản (chi phí) sử dụng để đạt được (có được) những lợi ích đó. Cần phải thống kê đầy đủ, bóc tách và quy tính tương đối chính xác các lợi ích và các loại chi phí trong một hoạt động.
Vì tính toán hiệu quả để lựa chọn hoạt động nên phải có hiệu quả cả ở dạng tuyệt đối và tương đối, tức là phải lấy kết quả (Lợi ích) trừ đi chi phí và lấy kết quả (lợi ích) chia cho chi phí. Về mặt kinh tế hiệu quả tuyệt đối là lãi; hiệu quả về mặt tương đối là lãi/tổng tài sản, lãi/ toàn bộ chi phí sinh lãi, lãi ròng/vốn chủ sở hữu. Hiệu quả kinh tế trong tương lai chỉ có được khi đảm bảo ổn định chính trị - xã hội và về mặt môi trường. Do đó hiệu quả kinh doanh hàng năm phải được đánh giá kết hợp cả ba mặt: kinh tế, chính trị - xã hội và môi trường.
Hiệu quả về mặt chính trị - xã hội và môi trường nên được quy tính ra hiệu quả kinh tế để có thể so sánh, quyết định lựa chọn. Hoạt động của doanh nghiệp là hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp được phép kinh doanh tất cả những gì nhà nước không cấm, thường cùng một lúc tiến hành cả ba loại hình kinh doanh: kinh doanh sản xuất, kinh doanh thương mại, kinh doanh dịch vụ. Thực tế luôn chỉ rõ ràng, chất lượng của cả đội ngũ người lao động (sức mạnh hợp thành của các loại khả năng lao động) đến đâu hoạt động của doanh nghiệp trúng đến đó, trôi chẩy đến đó; chất lượng, chi phí của các yếu tố đầu vào khác cao thấp đến đó; chất lượng của các sản phẩm trung gian, năng lực cạnh tranh của sản phẩm đầu ra đến đó, hiệu quả cao đến đó… Chất lượng đội ngũ người lao - 15 - động của doanh nghiệp cao hay thấp chủ yếu phụ thuộc vào trình độ quản lý nhân lực ở doanh nghiệp đó.
CSNL ChÊt lîng KNCT cña KNCT cña HiÖu qu¶ C¸c nh©n lùc c¸c yÕu tè s¶n phÈm kinh doanh nh©n cña DN s¶n xuÊt ®Çu ra cña DN tè Thực trạng nhân lực và kết quả kéo theo của Việt Nam ở 5 năm đầu của thế kỷ 21: Theo kết quả đề tài KX - 05 - 08 chỉ số trình độ công nghệ của đội ngũ thừa hành và đội ngũ quản lý ở doanh nghiệp công nghiệp đạt dưới 0,5. Theo UNESCO điểm thành thành thạo tiếng Anh năm 2000 là 2,62 công nghệ cao là 2,50/10. Theo WIPO (Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới) năm 2001 Nhật có 388 390 PMSC, Mỹ có 190 907, Hàn Quốc có 74 001, Trung Quốc có 30320.Trong khi đó từ 1981 đến 2001 Việt Nam chỉ có 7 sáng chế đăng ký và được cấp bằng! Vị thế cạnh tranh của Việt nam năm 2003 được xác định là 66/80. GDP/người, năm đầu thế kỷ 21 của Việt Nam thua của Hàn Quốc 32,5 lần, của Đài Loan 39,5 lần.
Để có nhân lực đảm bảo chất lượng, sử dụng nhân lực tốt nhất, không ngừng phát triển nhân lực doanh nghiệp cần phải quản lý nhân lực một cách khoa học, tức là quản lý nhân lực một cách bài bản và áp dụng nhiều các thành tựu khoa học. Quản lý nhân lực ở doanh nghiệp là hoạch định và tổ chức thực hiện hệ thống các chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể nhằm có nhân lực để sử dụng, sử dụng tốt nhất và làm cho nó không ngừng phát triển.