Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về chất lượng nhân lực và nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp 1.1 Nhân lực của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về nhân lực của doanh nghiệp Theo từ điển Hán Việt, nhân nghĩa là người, lực nghĩa là năng lực, tài sức làm việc của con người. Hiểu một cách đơn giản, nhân lực nghĩa là năng lực, tài sức của con người trong quá trình làm việc. Theo Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân (2004) viết trong cuốn Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, thì “Nhân lực chính là tổng thể những tiềm năng của con người - mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động - của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong một thời kỳ nhất định (5 năm, 10 năm…) phù hợp với kế hoạch và chất lượng phát triển”.
Theo khái niệm này, nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng phù hợp của con người phục vụ cho việc duy trì và phát triển đối với một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong một thời gian nhất định cho phép, trong đó tiềm năng cần quan tâm nhất là tiềm năng lao động. "Tiềm năng lao động" có nghĩa là năng lực sẵn có và cần khai thác thêm của con người để phục vụ lao động (Theo Wikipedia Việt Nam). Đây là những năng lực tiềm ẩn trong cơ thể con người cần được tìm ra và sử dụng trong quá trình lao động. Những năng lực này được hiểu là kiến thức, kỹ năng, khả năng và hành vi mà người lao động có thể hoặc cần phải có được để đáp ứng yêu cầu công việc, và là yếu tố giúp người lao động làm việc hiệu quả hơn.
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản là nhân lực chính là những năng lực của con người đã có sẵn hoặc cần khai thác thêm thông qua quá trình lao động trong một phạm vi không gian, thời gian nhất định. Xét riêng đối với doanh nghiệp, nhân lực trong doanh nghiệp chính là toàn bộ người lao động làm việc trong tổ chức đó theo một cơ cấu xác định, với những khả năng lao động sẵn có và những tiềm năng sáng tạo vô hạn, được tổ chức quản c 6 lý và phát triển nhằm thúc đẩy vai trò nguồn lực trong quá trình thực thi sứ mạng của tổ chức.2 Phân loại nhân lực của doanh nghiệp Theo PGS.TS Hoàng Văn Hải trong cuốn Giáo trình Quản trị nhân lực thì tuỳ theo từng quan điểm và khía cạnh nghiên cứu khác nhau, nhân lực cũng được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành nhân lực được chia ra thành ba loại: - Nhân lực trong độ tuổi lao động và đang có khả năng lao động. Việc quy định giới hạn độ tuổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nước khác nhau.
Trong từng thời kỳ lại có sự thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp. Ở nước ta quy định giới hạn độ tuổi lao động từ 18 đến 55 (đối với nữ) và từ 18 đến 60 (đối với nam). - Nhân lực tham gia hoạt động kinh tế hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế. Đây là những người có công ăn việc làm và đang hoạt động trong nền kinh tế quốc dân.
- Nhân lực dự trữ: nhân lực này bao gồm những người trong độ tuổi lao động, nhưng vì lý do khác nhau nên chưa tham gia hoạt động kinh tế, song khi cần có thể huy động được cụ thể là: + Những người làm công việc nội trợ trong gia đình, đây là đội ngũ nhân lực đáng kể và đại bộ phận là lao động nữ. + Những người tốt nghiệp các trường phổ thông trung học và chuyên nghiệp song chưa có việc làm, là đội ngũ nhân lực dự trữ rất quan trọng và có chất lượng nếu tiếp tục được đào tạo. + Những người vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về. Họ đã được rèn luyện về sức khoẻ, ý chí, đạo đức cách mạng.
Vì vậy, đây là đội ngũ nhân lực tốt khi được sắp xếp công việc phù hợp. Nếu chia theo hình thức hợp đồng: nhân lực được phân ra thành lao động không xác định thời hạn, lao động hợp đồng ngắn hạn và lao động thời vụ. Nếu chia theo đào tạo: nhân lực có thể chia thành hai loại là nhân lực đã qua đào tạo và nhân lực chưa qua đào tạo. c 7 Nếu phân chia theo cơ cấu chức năng nhân lực trong doanh nghiệp sẽ được chia thành: Lao động làm công tác quản lý và lao động trực tiếp sản xuất.
Trong đó: Lao động làm công tác quản lý: được hiểu đó là tất cả những người trong bộ máy quản lý tham gia vào việc thực hiện các chức năng quản lý. Trong doanh nghiệp lao động quản lý bao gồm: cán bộ quản lý cao cấp, cán bộ quản lý trung cấp, cán bộ quản lý cấp cơ sở và các viên chức thừa hành. Lao động trực tiếp sản xuất: là những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh trực tiếp tạo ra các sản phẩm dịch vụ cho doanh nghiệp. Vai trò của nhân lực trong doanh nghiệp Sự tăng trưởng kinh tế của một doanh nghiệp tuỳ thuộc vào việc doanh nghiệp đó sử dụng như thế nào đối với các nguồn lực: nhân lực, tài lực và vật lực.
Trong đó, nhân lực đóng một vai trò quyết định, then chốt trong việc phát triển doanh nghiệp, trong đó có thể kể đến những nội dung sau: - Nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp: Nhân lực đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức. Chỉ có con người mới sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra được quá trình sản xuất kinh doanh đó. Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức đều cần phải có, nhưng trong đó tài nguyên nhân văn - con người lại đặc biệt quan trọng. Không có những con người làm việc hiệu quả thì tổ chức đó không thể nào đạt tới mục tiêu.
- Nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược: Trong điều kiện xã hội đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó. Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con người ngày càng chiến vị trí quan trọng: Đội ngũ nhân lực có tính năng động, sáng tạo và hoạt động trí óc của con người ngày càng trở nên quan trọng. - Nhân lực là nguồn lực vô tận: Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp ngày càng phát triển và nguồn lực con người là vô tận.Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người. c 8 Trong giai đoạn hiện nay, việc ứng dụng ngày càng rộng rãi những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất đã làm năng suất lao động tăng nhanh.
Tuy nhiên, khoa học và công nghệ dù có sức mạnh thế nào cũng không thể thay thế hoàn toàn vai trò của con người. Nhân lực vẫn đóng một vai trò quan trọng, quyết định quá trình sản xuất, tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Thế giới đang có xu hướng chuyển từ nền kinh tế dựa vào sự giàu có của các nguồn tài nguyên sang kinh tế tri thức. Trong bối cảnh như vậy, nguồn lực con người càng trở thành động lực chủ yếu của sự phát triển nhanh và bền vững.2 Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về chất lượng nhân lực của doanh nghiệp Theo PGS.TS Bùi Văn Nhơn (2010) trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực cho một tổ chức” thì “Chất lượng nhân lực gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội”.
Trong đó, thể lực của nhân lực gồm sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần; Trí lực của nhân lực gồm trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động; Phẩm chất tâm lý xã hội gồm kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao.TS Vũ Thị Mai (2012) trong cuốn “Kinh tế và quản lý nguồn nhân lực” thì “Chất lượng nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động”. Hay chất lượng nhân lực có thể được hiểu là trạng thái nhất định của nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nhân lực. Từ các định nghĩa trên, trong khuôn khổ luận văn, tác giả sử dụng định nghĩa về chất lượng nhân lực như sau: Chất lượng nhân lực là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động được biểu hiện thông qua ba mặt: thể lực, trí lực, tinh thần. Ba mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành chất lượng nhân lực.
Trong đó, thể lực là nền tảng, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ là yếu tố quyết định chất lượng nhân lực, ý thức tác phong làm việc là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hóa của thể lực trí tuệ thành thực tiễn. Có thể thấy “chất lượng nhân lực” là một khái niệm có nội hàm rất rộng, là một trong những yếu tố để đánh giá nhân lực. Chất lượng nhân lực thể hiện mối c 9 quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nhân lực, bao gồm trí lực, tâm lực và thể lực.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp Theo Tiến sĩ Trần Kim Dung, tác giả cuốn Giáo trình Quản trị nhân sự [16], thì chất lượng nhân lực được đánh giá thông qua 3 tiêu chí: thể lực, trí lực và tâm lực, cụ thể như sau: a. Chất lượng nhân lực thông qua thể lực Thể lực: là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động.
Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nhân lực, song, sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh. Chăm sóc sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nhân lực, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người (Trần Kim Dung, 2016).