CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA TRUNG TÂM Y TẾ QUẬN 1.1 Khái niệm và đặc điểm, vai trò của nguồn nhân lực y tế 1. Khái niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực y tế Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, là tổng thể của các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động. Theo giáo trình Quản lý nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính, “Nguồn nhân lực là những người đáp ứng yêu cầu về năng lực, có thể huy động để tạo ra sản phẩm cho xã hội.
Năng lực con người ở đây bao gồm: trí tuệ, kiến thức, thái độ, kỹ năng, đạo đức, kinh nghiệm của mỗi con người” [7, tr. Như vậy, nói đến nguồn nhân lực là đề cập tới những người có khả năng lao động đáp ứng yêu cầu của xã hội, tổ chức khi cần thiết, không giới hạn bởi độ tuổi lao động, bằng cấp nhất định… Điều này cho thấy, nguồn nhân lực không chỉ phản ánh về số lượng và chất lượng hiện hữu mà còn có thể ở cả dạng tiềm năng. Trong phạm vi luận văn, NNL của TTYT Quận là tổng thể những người có khả năng lao động với thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp trong lĩnh vực y tế, đang và sẽ tham gia vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe của nhân dân, cộng đồng. Họ bao gồm các BS, y sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, dược sỹ, kỹ thuật viên y… những người khác làm việc trong ngành y tế, nhân viên y tế cộng đồng, nhân viên y tế xã hội và các nhà cung cấp dịch vụ CSSK khác, cũng như nhân viên hỗ trợ và quản lý sức khỏe, những người không cung cấp dịch vụ y tế trực tiếp, nhưng 9 rất cần thiết để hệ thống y tế hoạt động hiệu quả, bao gồm cả quản lý dịch vụ y tế, kỹ thuật viên hồ sơ y tế và thông tin sức khỏe, nhà kinh tế học sức khỏe, quản lý chuỗi cung ứng sức khỏe, thư ký y khoa và những người khác.
Đặc điểm của nguồn nhân lực y tế - Là loại lao động thù, gắn với trách nhiệm cao trước sức khỏe của con người và tính mạng của người bệnh. - Lao động ngành y là những người có chuyên môn cao, phẩm chất đạo đức tốt. - Thời gian đào tạo nhân viên y tế thường từ 6 - 9 năm dài hơn các ngành khác. - Nhân viên y tế phải được bồi dưỡng liên tục hằng năm (theo Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09/08/2013 của Bộ Y tế Hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế).
- NNL trong các cơ sở y tế có thể chia thành 2 nhóm: nhóm NNL làm công tác hành chính, quản lý và nhóm NNL làm công tác chuyên môn. Đối với nhóm NNL làm công tác hành chính, quản lý, tùy theo cơ cấu tổ chức và quy mô của bệnh viện hoặc trung tâm y tế sẽ gồm VC làm việc ở các phòng, tham tham mưu giúp việc lãnh đạo hoặc phục vụ hành chính như chuyên viên, kế toán, cán sự, bảo vệ và các nhà quản lý như: Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng/ Phó Khoa, Phòng, TYT, VC hành chính: VC hành chính có thể không có chuyên môn sâu về ngành y, tuy nhiên vẫn có những hiểu biết nhất định về hoạt động của của bệnh viện, hoặc trung tâm y tế; họ được xếp vào các ngạch cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính. Đối với những người giữ chức vụ quản lý, bên cạnh phải có kiến thức chuyên môn y tế thì họ phải được bồi dưỡng về chính trị, pháp luật, hành chính… Đối với nhóm NNL làm công tác chuyên môn trong các cơ sở y tế được xếp vào các chức danh nghề nghiệp do pháp luật quy định như: bác sĩ (Hạng 10 I, II, III), y sĩ, hộ sinh, điều dưỡng hạng II, III, IV, dược sỹ, y tế công cộng, kỹ thuật viên các hạng… 1. Vai trò của nguồn nhân lực y tế NNL y tế là một bộ phận quan trọng của NNL đất nước, bao gồm bác sĩ, y tá, nữ hộ sinh, dược sĩ… là thành phần vô cùng quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ y tế có chất lượng, hướng tới bao phủ CSSK toàn dân và đạt được các mục tiêu phát triển bền vững liên quan đến sức khỏe.
NNL y tế có đủ năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức… có vai trò quan trọng dẫn đến thành công hay thất bại trong việc nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo của mình đối với công tác CSSK cộng đồng. Các chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực y tế có đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn hay không, việc thực hiện các chính sách ấy có hiệu quả hay không, có phát huy được tác dụng hay không… phụ thuộc vào năng lực, phẩm chất, đạo đức của NNL y tế. Cụ thể: NNL y tế đa chuyên ngành, có chuyên môn tốt có khả năng cung cấp các dịch vụ y tế chất lượng cao và lấy người dân làm trung tâm là vô cùng cần thiết để đáp ứng nhu cầu y tế đang thay đổi tại Việt Nam, đặc biệt là sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm và già hóa dân số. Trong công cuộc cải cách hệ thống Y tế tại Việt Nam, một trong những việc trọng tâm là tập trung xây dựng nhân lực ngành Y tế.
Chất lượng, tiêu chí đánh giá và các yếu tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực tại các cơ sở y tế 1. Khái niệm chất lượng và chất lượng nguồn nhân lực y tế a) Khái niệm chất lượng 11 "Chất lượng" là một phạm trù phức tạp và có nhiều định nghĩa khác nhau. Theo quan niệm triết học khi phân tích sự khác biệt giữa chất và lượng: “Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính khách quan vốn có của nó là cho sự vật chứ không phải là cái khác. Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật”.
Theo Từ điển tiếng Việt, "chất lượng" được hiểu ở nghĩa chung nhất là "Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc" [10, tr. Quan niệm thông thường cho rằng “Chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thõa mãn nhu cầu của khách hàng”. Vì vậy, sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng. b) Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực y tế Chất lượng NNL y tế thể hiện ở trình độ chuyên môn, năng lực làm việc, ứng xử có trách nhiệm với các nhiệm vụ được giao.
Đáp ứng yêu cầu về chất lượng trước tiên phải đảm bảo xây dựng năng lực chuyên môn tốt cho NNL y tế. Năng lực chuyên môn là kiến thức, kỹ năng và thái độ mà một cá nhân có được thông qua quá trình giáo dục, đào tạo và tích lũy kinh nghiệm làm việc. Đáp ứng được yêu cầu này cần một chương trình giáo dục, đào tạo phù hợp, đặc biệt là đào tạo liên tục và khơi dậy sức sáng tạo của nhân viên y tế. Ứng xử có trách nhiệm là đối xử với mọi người một cách tôn trọng, không phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe hoặc vị trí xã hội.
Ở Việt Nam có thể hiểu đó là tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh. Nhân lực ngành Y tế được phân loại theo nghề nghiệp. Tùy thuộc vào từng quốc gia, có thể sử dụng phân loại nghề nghiệp nói chung, trong đó có y tế theo tiêu chuẩn quốc tế hoặc điều chỉnh bổ sung tiêu chuẩn quốc gia. 12 Những căn cứ để ban hành Quy định về chức danh nghề nghiệp ngành Y: Thông tư số 10/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 27/5/2015 thông tư liên tịch của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sĩ, bác sĩ y học dự phòng, y sĩ; Thông tư số 11/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 27/5/2015 thông tư liên tịch của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp y tế công cộng; Thông tư số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 thông tư liên tịch của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y; Thông tư số 27/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 thông tư liên tịch của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp dược (Phụ lục 01) Nhóm chức danh BS, bao gồm: Bác sĩ cao cấp (hạng I), Mã số: V.01; Bác sĩ chính (hạng II), Mã số: V.
Nhóm chức danh bác sĩ y học dự phòng, bao gồm: Bác sĩ y học dự phòng cao cấp (hạng I), Mã số: V.04; Bác sĩ y học dự phòng chính (hạng II), Mã số: V.05; Bác sĩ y học dự phòng (hạng III), Mã số: V. Chức danh y sĩ: Y sĩ hạng IV, Mã số: V. Nhóm chức danh dược sĩ: Dược sĩ cao cấp (hạng I), Mã số: V.20; Dược sĩ chính (hạng II), Mã số: V.22; Dược hạng IV, Mã số: V. Nhóm chức danh Y tế công cộng: Y tế công cộng cao cấp (hạng I), Mã số: V.08; Y tế công cộng chính (hạng II), Mã số: V.03; Y tế công cộng (hạng III), Mã số: V.
Nhóm chức danh điều dưỡng, bao gồm: Điều dưỡng hạng II, Mã số: V.11; Điều dưỡng hạng III, Mã số: V.12; Điều dưỡng hạng IV, Mã số: V. 13 Nhóm chức danh hộ sinh, bao gồm: Hộ sinh hạng II, Mã số:V.14; Hộ sinh hạng III, Mã số: V.15; Hộ sinh hạng IV, Mã số: V. Nhóm chức danh kỹ thuật y, bao gồm: Kỹ thuật y hạng II, Mã số: V.17; Kỹ thuật y hạng III, Mã số: V.18; Kỹ thuật y hạng IV, Mã số: V. Các yếu tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực y tế - Kiến thức: Để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nhân viên y tế, các tổ chức cần có kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu của công việc.
Đồng thời, Bản thân mỗi nhân viên y tế cần liên tục cập nhật kiến thức y khoa để cung cấp kiến thức mới về sức khỏe cho người dân và quan trọng hơn là đáp ứng nhu cầu CSSK người dân ngày càng cao.