CHƯƠNG 1. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHAT LƯỢNG NGUON NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài Vấn đề nhân lực là vấn dé quan trọng trong các t6 chức và doanh nghiệp, từ lâu đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu.
Đề cập tới vấn đề này, đã có một số công trình nghiên cứu như: Bài viết của Phạm Công Nhat (2008) về “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc té”, Tap chí Cộng sản số 786. Bên cạnh việc làm rõ thực trạng sé luong va chat lượng NNL của nước ta trong thời gian nghiên cứu; tác giả cũng đưa ra được những yếu kém và nguyên nhân của những yếu kém về mặt chất lượng NNL dé từ đó đề xuất một số giải pháp giúp phát triển chất lượng NNL nhằm đáp ứng những yêu cầu trong giai đoạn công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Lê Thị Mỹ Linh (2009), “Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh te”, Luận án Tiến sĩ kinh tế trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Trong luận án nghiên cứu của mình, tác giả nhấn mạnh những đặc điểm NNL trong các doanh nghiệp vua và nhỏ ở Việt Nam, dua ra những phân tích và đánh giá ưu và nhược trong việc phát triển chất lượng NNL trong các doanh nghiệp này.
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cung cấp những thông tin rất hữu ích và thực tế giúp các doanh nghiệp đào tạo và phát triển NNL phù hợp với nhu cầu thực tế. Vũ Thị Thu Phuong (2014), “Phân tích và dé xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực tại Công ty Công nghệ thông tin Điện lực miễn Bắc — Tong Công ty Điện lực miên Bắc”, Luận văn Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh, trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Đề tài đã tong hop, danh gia thuc trang nhân lực cũng như ảnh hưởng của công tác quan lý nhân lực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Đồng thời nêu lên cơ cau lao động dé thấy được hạn chế về chất lượng lao động của Công ty hiện nay, từ đó có những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực của Công ty.
Phạm Văn Sơn (2015) với bài viết “7 giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực Việt Nam”, Báo giáo dục thời đại. Tác giả đã đề xuất 7 nhóm giải pháp dé nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bao gồm: Nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, khuyến khích người lao động tự học, gắn chiến lược phát triển NNL với phát triển kinh tế - xã hội; chiến lược trọng dụng nhân tài và xây dựng xã hội học tập; nâng cao thông tin về thị trường lao động, mở rộng hợp tác quốc tế. Nguyễn Thu Thuy (2020), “Nghiên cứu dé xuất các giải pháp nâng cao chất lượng nguôn nhân lực Việt Nam trong cơ chế thi trường”, Đề tài NCKH cấp quốc gia, mã số KHGD/16-20. Đề tài đánh giá thực trạng phát triển cung cầu về cơ cấu trình độ, ngành nghề trong quá trình chuyền đổi nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Bên cạnh đó xác định vai trò của các bên tham gia thị trường đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam, đánh giá tác động của các chính sách của Chính phủ đến sự phát triển của thị trường này. Trên cơ sở phân tích thành công những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cũng như bối cảnh, cơ hội và thách thức, nhóm nghiên cứu đề xuất các Chủ trương chung, chiến lược và giải pháp cụ thê nhằm nâng cao chất lượng NNL Việt Nam hướng tới cơ chế thị trường trong tương lai. Nhận xét chung về các công trình Ngoài những công trình nghiên cứu đã kể trên, còn rất nhiều tác giả cũng quan tâm, nghiên cứu chuyên sâu về các khía cạnh khác nhau của công tác nâng cao chất lượng NNL của các ngành, các lĩnh vực cụ thé. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác nhau có thể đề xuất tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực đối với từng loại hình doanh nghiệp, với từng đặc thù công việc không giống nhau.
Các yếu tố ảnh hưởng theo đó cũng có sự khác nhau nhất định. Tuy nhiên, tong quan các nghiên cứu giúp cho học viên có thé tham khảo và tổng hợp dé tìm ra những điểm chung va đề xuất các nội dung mới phù hợp với phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn này. Nhìn chung các nghiên cứu đều chỉ ra răng chất lượng nhân lực bao gồm 3 yếu tố thé lực, tâm lực và trí lực. Tuy nhiên mỗi cá nhân và mỗi doanh nghiệp là những thực thé khác nhau hoàn toàn về lĩnh vực hoạt động, điều kiện kinh tế- xã hội vùng miền.
Do đó, các vấn đề về chất lượng NNL ở mỗi tổ chức vẫn luôn có những khác biệt và cần nghiên cứu thực nghiệm. Đây chính là nguồn tư liệu tham khảo đáng giá cho việc nghiên cứu công tác nâng cao chất lượng NNL tai TCT Bưu điện Việt Nam. Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào về nâng cao chất lượng NNL được thực thiện hiện tại TCT Bưu điện Việt Nam. Vì thế, đây vẫn là nội dung còn mới mà học viên mong muốn bàn luận nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp có tính thiết thực và hiệu quả cho các vấn đề về nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên tại đây.Cơ sở lý luận về chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1.
Nguồn nhân lực 1.Khái niệm “Nhân lực” là nguồn lực trong mỗi một con người, bao gồm những nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng được thé hiện thông qua sức khỏe, trình độ, ý thức, mức độ có gắng, sức sáng tạo, long say mê. Nhiều công trình, bài báo đã công bố trước đây đã chỉ ra các yêu tô đầu vào của hoạt động kinh doanh trong một DN bao gồm: nguyên liệu sản xuất, vốn đầu tư, cơ sở vật chất trang thiết bị, lao động, các nhà quản trị,. Trong đó, yếu tố con người có ảnh hưởng quyết định đến trình độ quản lý và sử dụng các nguồn lực khác của DN. Con người là yếu tố tích cực và chủ động nhất trong quá trình kinh doanh, trở thành nguồn lực quan trong hàng dau của DN.
Thuật ngữ “Nguồn nhân lực” (NNL) đã xuất hiện từ thập niên 80 của thế kỷ XX, đã có nhiều định nghĩa về NNL như: Theo định nghĩa của Theo Liên Hợp Quốc trong Các chỉ số phát triển thé giới (World Development Indicators) (2000) thì: “NNL là tat ca những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ với sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Định nghĩa này có phần thiên về chất lượng của nguồn nhân lực. Theo Nicholas Henry — Public Adminnistration and Public affairs, 10th edition 2007 “nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tô chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tô chức cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của các quốc gia, khu vực, thé giới”. Ở Việt Nam, khi bắt đầu công cuộc đổi mới thì khái niệm “nguồn nhân lực” ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn.
Theo quan điểm của GS. Lê Hữu Tang trong chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước KX - 07 thi “nguồn nhân lực” được hiểu là: “số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thé chất và tinh than, sức khỏe và trí tuệ, năng lực phẩm chat, thái độ, phong cách làm việc”. Như vậy nguồn nhân lực được hiểu là sự tổng hòa về cả số lượng và chất lượng. Theo giáo trình Kinh té nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân (2008): “NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh than cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”.
“NNL là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ân của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tao ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thé hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cau dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nên sản xuất xã hội”. Các quan điểm trên định nghĩa NNL ở góc độ vi mô; cũng có những định nghĩa ở góc độ 1 tổ chức, doanh nghiệp như: Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Dai học Lao động — Xã hội (2009) thì: “NNL của tổ chức là nguồn lực của toàn thé cán bộ, công nhân viên lao động trong tô chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức. Sức mạnh của tập thé lao động van dung vào việc đạt được những mục tiêu chung của tô chức, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên”.
Hay theo GS. Bùi Văn Nhơn trong sách “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội” (2006) thì: “ Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”. Việc xem xét con người với tư cách là nguồn lực quan trọng của DN và sự phát triển kinh tế xã hội đã hình thành khái niệm về NNL với nhiều cách đánh giá khác nhau, xét trên hai mặt chủ đạo cũng chính là các yếu tô cơ bản cau thành NNL đó là số lượng và chất lượng. Về mặt số lượng thì nguồn nhân lực là nguồn cung cấp lực lượng lao động cho sự phát triển của kinh tế- xã hội; là toàn bộ những người đang trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động.
Nguồn nhân lực trong DN là tổng số lao động được DN thuê, mướn, được trả công và làm theo các chính sách của DN đang thực hiện các mục tiêu của DN nhăm duy tri và phát triển DN đó. Về mặt chất lượng thì nguồn nhân lực chính là tiềm năng lao động của toàn bộ lực lượng lao động bao gồm 3 yếu tố trí lực, thé lực và tâm lực. Trong đó trí lực là trí tuệ, năng lực và khả năng sáng tạo của con người. Đây là một yếu tố quan trọng liên quan trực tiếp đến kết quả lao động của con người.