Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng nhân lực Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng nguồn nhân tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa 4 C ƣơn 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1. Nhân lực và Nguồn nhân lực 1. Nh n lực Nhân lực là một trong các yếu tố tạo nên sự thành công của một tổ chức hay doanh nghiệp.
Có nhiều khái niệm khác nhau về nhân lực, song được hiểu bao gồm tiềm năng của con người ở 1 tổ chức hay xã hội, hay nói cách khác là tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử, giá trị đạo đức để thành lập và duy trì sự phát triển của tổ chức [22; tr2]. Như vậy, với quan niệm này thì bản chất nhân lực được xem xét nhiều ở khía cạnh chất lượng như tiềm năng con người về năng lực, sự sáng tạo…Bên cạnh đó, khía cạnh nhân lực được quan tâm là về đạo đức. Trong quá trình quản lý nhân lực cần xem xét các góc độ này để tác động và có hướng chủ đích để sử dụng nhân lực được hiệu quả trong các đơn vị, tổ chức. Ở góc nhìn khác, khi nói tới nhân lực, trước hết cần phải hiểu đó là toàn bộ những người lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội và các thế hệ những người lao động tiếp tục tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Con người đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướng nó đến mục tiêu đã được chọn. Do vậy, nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc. Tất cả những yếu tố này thuộc về chất lượng nhân lực và được đánh giá bằng một chỉ tiêu tổng hợp là văn hóa lao động. Cùng với đó, khi nói tới nhân lực, thì cơ cấu của lao động, bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề, cũng cần phải được coi là một chỉ tiêu quan trọng.
Nói tới nhân lực không thể bỏ qua phẩm chất đạo đức, nhân cách con người. Trước đây, chúng ta thường chỉ hiểu về nhân lực đơn giản chỉ là sức người với thể lực và trí lực của họ [27; tr1]. 5 Tóm lại, có thể hiểu nhân lực là toàn bộ lao động đang có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, gồm số lượng và chất lượng lao động (tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc). N uồn nh n lực Trải qua hàng nghìn năm tiếp cận về nguồn nhân lực ở mỗi góc cạnh có tính chất khác nhau, mang nghĩa khá đa chiều và mỗi lĩnh vực lại có cách nhìn nhận riêng; Cụ thể: Dưới góc độ kinh tế phát triển, một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động được gọi là nguồn nhân lực.
Người trong độ tuổi lao động tùy vào các quốc gia để quy định khoảng độ tuổi.Biểu hiện NNL trên cả 2 mặt số và chất lượng, số lượng gồm người trong độ tuổi theo quy định làm việc theo quy định nhà nước hoặc số thời gian lao động có thể huy động được từ họ; Đối với mặt thứ 2 về chất lượng, thể hiện ở sức khỏe, trình độ chuyên môn, năng lực làm việc…của người lao động. Dưới góc độ kinh tế chính trị, NNL được hiểu là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước [5; tr36]. Trong phạm vi quốc gia, NNL thể hiện về sức mạnh của nhân dân trong đó lao động trong độ tuổi chiếm vai trò quan trọng, thể hiện được khả năng huy động mức tham gia trong việc tạo ra các của cải vật chất xã hội. Các yếu tố hình thành nên sức mạnh đó như chất lượng, số lượng và cơ cấu về dân số.
Quá trình thay đổi và chuyển dịch các yếu tố này phù hợp trong từng quốc gia, trong từng thời kỳ phát triển đất nước. Ở phạm vi hẹp hơn, NNL của một tổ chức/ doanh nghiệp là tập hợp tất cả các cá nhân tham gia vào bất kỳ hoạt động nào nhằm đạt được các mục tiêu, mục đích của doanh nghiệp, tổ chức đó đặt ra. Bất kỳ doanh nghiệp/ tổ chức nào cũng được hình thành dựa trên các thành viên (nguồn nhân lực). 6 NNL là tổng thể các yếu tố tồn tại song hành cùng nhau như trí lực, tâm lực và thể lực trong hệ thống lực lượng lao động ở các nước, thể hiện ở kinh nghiệm, truyền thống, sự sáng tạo trong quá trình sản xuất.
NNL được hiểu là lao động trong độ tuổi lao động ( là thể hiện về số lượng NNL), còn phản ánh ở chất lượng NNL như trình độ chuyên môn, năng lực đem lại nguồn thu nhập. Có thể thấy, con người là 1 trong các yếu tố tạo nên tăng trưởng kinh tế, đảm bảo được sự bền vững trong tăng trưởng đó ( trong đó phần lớn là NNL). Vì vậy NNL được xem như yếu tố then chốt để tổ chức, đơn vị và quốc gia tồn tại và phát triển. NNL được xem là nòng cốt trong mọi hoạt động của đơn vị, doanh nghiệp hay tổ chức, sự phát triển đó phụ thuộc rất lớn vào NNL.
NNL trong doanh nghiệp bao gồm toàn bộ lao động mà doanh nghiệp có thể huy động nhằm thực hiện được nhiệm vụ mà doanh nghiệp đề ra trong hiện tại và tương lai xác định của doanh nghiệp. Để đánh gia NNL trong doanh nghiệp cần xem xét trên các tiêu chí về số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL, có như vậy mới có chiến lược lâu dài phát triển NNL theo mục tiêu mà doanh nghiệp hướng đến trong bối cảnh nền kinh tế liên tục biến đổi không ngừng. Yếu tố về số lượng NNL bao gồm các tiêu chí phản ánh như: Số lượng lao động tham gia, mức độ tăng trưởng hàng năm và trong từng giai đoạn (tùy vào quốc gia hay doanh nghiệp để phân luồng)…. Chất lượng NNL bao gồm các yếu tố cấu thành như: trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm và các kỹ năng trong quá trình lao động các yếu tố khác về sức khỏe, năng lực thẩm mỹ…Như vậy trong chất lượng NNL không bóc tách giữa tâm lực và trí lực.
Còn với cơ cấu NNL được xem xét từ các yếu tố cấu thành như độ tuổi, giới tính… Tóm lại với các góc nhìn về NNL, có thể thấy NNL là tổng thể số lượng và chất lượng, cơ cấu con người trên các mặt về thể lực, trí lực và tâm lực để thực hiện nhiệm vụ tốt các mục tiêu đề ra trong mục tiêu nhiệm vụ chung của tổ chức ở các thời điểm nhất định. Chất lƣợng nguồn nhân lực v các t u c í đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực 1.Chất lượn n uồn nh n lực Chất lượng NNL tạo nên tăng trưởng kinh tế, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả công việc, tác động đa chiều đến nhiều lĩnh vực khác. Vì vậy có rất nhiều nghiên cứu quan tâm, dưới nhiều góc nhìn khác nhau. Khái niệm này được nghiên cứu từ rất lâu, xong vẫn chưa thống nhất một cách nhất quán và mỗi góc nhìn mỗi nghiên cứu lại đánh giá, quan niệm về chất lượng NNL.
Nghiên cứu Đình Phúc & Khánh Linh (2007) đề cập đến NNL là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động [23; tr34]. Điều này cho thấy phạm vi hiểu tương đối rộng, bao gồm tất cả mức độ đáp ứng về khả năng công việc để đạt mục tiêu đơn vị, tổ chức đặt ra. Nói cách khác là mức độ đạt được công việc bằng khả năng của người lao động bằng trí thức, bằng sức khỏe bằng đạo đức, và được đánh giá bằng thước đo công việc. Thước đo công việc có thể được hiểu là mức độ hoàn thành công việc, và được đánh giá bằng đánh giá lao động và biểu hiện bằng sự hài lòng của người sự dụng lao động cũng như đối tác trong công việc.
Tác giả Nguyễn Hữu Thân (2010) cho rằng: Chất lượng NNL là tập hợp những người có các thành tố sau: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc, v.); phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của NNL và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động” [18; tr35].Như vậy, bản chất của khái niệm này thể hiện 3 tụ điểm đặc điểm của nhân lực là: Thể lực (sức khỏe); Trí lực (tri thức, kỹ năng nghề nghiệp …và rộng hơn là cả các kỹ năng 8 bổ trợ trong công việc như sự linh hoạt, khả năng sáng tạo phát triển bản thân) và tụ cuối cùng là tâm lực (thể hiện phẩm chất đạo đức, tác phong, môi trường làm việc…) Dưới góc nhìn về nhân lực ở xu hướng hội nhập thế giới, Nguyễn Thanh Hội (2010), Chất lượng NNL được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng của người lao động cũng như sức khỏe của họ [13; tr45]. Như vậy, bản chất vẫn chất lượng NNL chỉ thể hiện rõ 2 khía cạnh, về sức khỏe ( thể lực), học vấn , chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng ( trí lực).