chương 1 Trên đây là những tìm hiểu và tổng hợp của tác giả về một số công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Những công trình nghiên cứu đó đã nêu được ưu, nhược điểm trong thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và các hoạt động nâng cao nguồn nhân lực của Công ty. Tuy mỗi tổ chức hoạt động trong một lĩnh vực khác nhau nhưng năng lực của doanh nghiệp là nguồn nhân lực chất lượng cao là vô cùng cần thiết. Nguồn nhân lực đã khẳng định được vai trò quan trọng của mình và ngà càng nhận được sự quan tâm của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc làm cấp bách giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Nhân lực Có nhiều cách phát biểu khái niệm về nhân sự do ảnh hưởng của cách tiếp cận và nhận thức khác nhau.
Một trong những khái niệm thường dùng “Nhân lực được hiểu là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp”. Ý kiến khác cho rằng : Nhân lực là tài sản quan trọng nhất của công ty, tổ chức hoặc quốc gia, gồm các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh hoặc các lĩnh vực khác. Nhân lực bao gồm các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và các đặc điểm cá nhân của các thành viên trong công ty hoặc tổ chức đó. Quản lý và phát triển nhân lực là một phần quan trọng của chiến lược tổ chức và đóng góp vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự thành công của nó.
Để tăng cường năng lực cạnh tranh, các tổ chức cần đầu tư vào việc tìm kiếm, giữ chân và phát triển các tài năng để giúp phát triển các mối quan hệ tốt với khách hàng, cải thiện sản phẩm và dịch vụ của họ. Theo quan điểm của tác giả: “Nhân lực là tài sản quan trọng và quý giá nhất của một tổ chức hoặc cộng đồng. Nhân lực bao gồm tất cả những người lao động, nhân viên, cán bộ, công nhân và thành viên khác trong tổ chức, cùng với kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm mà họ mang lại”. Nhân lực không chỉ đơn thuần là những cá nhân làm việc trong một tổ chức mà còn là những cá nhân đóng góp và tạo ra giá trị.
Họ là những con người có đam mê, năng lượng và ý chí, mang đến sự sáng tạo và đổi mới cho tổ chức. Khả năng tư duy, trí tuệ và tinh thần hợp tác của nhân lực là những yếu tố quan trọng giúp tổ chức hoạt động hiệu quả và cạnh tranh trong thị trường. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Thuật ngữ “Nguồn nhân lực” xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Nếu như trước đây, phương thức quản trị nhân viên với đặc trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay quản lý NNL với phương thức mang tính mềm dẻo, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất với các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động và phát triển.
Có lẽ đây chính là những biểu hiện cho sự thắng thế của 3 Thư viện ĐH Thăng Long phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn nhân lực. Có rất nhiều quan điểm và định nghĩa về nguồn nhân lực. Trước khi đưa ra một số khái niệm sử dụng trong khóa luận này, chúng ta cùng tìm hiểu về một số định nghĩa về NNL: Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn: “Nguồn nhân lực bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” (Nguyễn Tiệp, 2005, NXB Đại học Lao động – Xã hội). Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008): “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [3, tr.
Theo Dương Anh Hoàng (2007),Quản trị nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế, cho rằng: “Nguồn nhân lực (nguồn lực con người, nguồn tài nguyên người) là tổng hợp những năng lực, sức mạnh hiện có thực tế và dưới dạng tiềm năng của lực lượng người, mà trước hết là lực lượng lao động đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. Theo chương trình Khoa học - Công nghệ cấp Nhà nước KX -07, “Nguồn nhân lực cần được hiểu là dân số và trí tuệ, năng lực phẩm chất và đạo đức của người lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó” [7, Tr. Các quan điểm trên có thể nhận thấy rằng NNL được tiếp cận ở góc độ vĩ mô, còn ở góc độ tổ chức, doanh nghiệp thì lại có những quan điểm về NNL như: Theo Bùi Văn Nhơn trong sách “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội” (2006) thì: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [11, Tr72].
Từ các định nghĩa trên, tác giả có thể hiểu nguồn nhân lực như sau: “Nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên nhân sự và các vấn đề nhân sự trong một tổ chức cụ thể; nghĩa là toàn bộ đội ngũ cán bộ, công nhân viên của tổ chức với tư cách vừa là khách thể trung tâm của nhà quản trị, vừa là chủ thể hoạt động và là động lực phát triển của các doanh nghiệp nói riêng, của mọi tổ chức nói chung”. Trong mỗi doanh nghiệp, NNL không chỉ đơn thuần là số lượng con người có sẵn, mà còn bao gồm cả khả năng và phẩm chất của mỗi cá nhân. Điều này bao gồm kiến thức chuyên môn, kỹ năng cần thiết, kinh nghiệm làm việc, sự sáng tạo, sự lãnh đạo, khả năng làm việc nhóm và tư duy phân tích. Ngoài ra, nguồn nhân lực cũng bao gồm những yếu tố về đạo đức, đáng tin cậy và tinh thần làm việc.
Đồng thời, NNL 4 đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và thành công của một tổ chức. Khi tổ chức có nguồn nhân lực tốt, có thể phát huy hết tiềm năng và tạo ra hiệu suất cao. Nguồn nhân lực cũng có thể được xem là một nguồn tài nguyên cạnh tranh, vì những tổ chức có nguồn nhân lực tốt có lợi thế trong việc đạt được mục tiêu và cạnh tranh với các đối thủ. Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm mô tả mức độ đáp ứng của các nhân viên đối với yêu cầu của công việc và hiệu suất làm việc của họ.
Để đạt được chất lượng nguồn nhân lực cao, các tổ chức cần có một chiến lược tuyển dụng, đào tạo, phát triển nhân viên hiệu quả. Tuyển dụng đúng người cho đúng vị trí, đảm bảo chất lượng của quá trình đào tạo, hỗ trợ nhân viên phát triển kỹ năng và nâng cao năng lực, tạo điều kiện để họ làm việc hiệu quả và thúc đẩy tinh thần làm việc tích cực đều là các yếu tố quan trọng trong việc đạt được NNL đủ mạnh cả chất và lượng. Chất lượng nguồn nhân lực Theo Nguyễn Tiệp (2005) trong giáo trình Nguồn nhân lực, NXB Đại học Lao động – Xã hội định nghĩa: “Chất lượng NNL là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và trình độ phản ảnh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống của dân cư”.10] Chất lượng NNL không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ kinh tế về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lượng NNL cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là nguồn lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định. Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2008), trong giáo trình kinh tế NNL của trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chất lượng NNL có thể hiểu : “Trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực”.
Về cơ bản, khóa luận này đồng tình với khái niệm nêu trên. Nhưng tác giả xin phép bổ sung thêm cụm từ “hành vi” sau cụm từ “thái độ” trong khái niệm nêu trên, vì từ thái độ đến hành vi là cả một quá trình, có thái độ tốt thì khi đó hành động mới tốt, nhưng không phải lúc nào thái độ cũng song hành với hành vi và hành động. Còn theo Mai Quốc Chánh thì: “Chất lượng NNL được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất”. Như vậy, việc đánh giá chất lượng NNL được tác giả “xem xét trên các mặt” chứ không coi đó là các tiêu chí cần thiết và bắt buộc phải có, do đó, có thể có mặt “được xem xét”, có mặt “chưa được xem xét” và có thể có mặt “không được xem xét” đến.
5 Thư viện ĐH Thăng Long Từ những nhận định trên, có thể thấy rằng “chất lượng NNL” là một khái niệm có nội hàm rất rộng, là một trong những yếu tố để đánh giá NNL. Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất của NNL, bao gồm: Thể lực: là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động. Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển NNL, song, sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh.