Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Mù Cang Chải, Yên Bái" được thực hiện bởi sinh viên Vương Thị Thanh Thảo, ngành Việt Nam học (chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành), Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển và hội nhập, du lịch đã trở thành nhu cầu thiết yếu trong đời sống văn hóa xã hội và là ngành kinh tế mũi nhọn tại nhiều địa phương. Cộng đồng dân cư bản địa vừa là nền tảng, vừa là động lực và chủ thể gìn giữ nguồn tài nguyên văn hóa, sinh thái để hình thành các sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng.

Huyện Mù Cang Chải (tỉnh Yên Bái) sở hữu tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú với danh thắng ruộng bậc thang, cảnh quan đèo Khau Phạ và bản sắc văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là người H'Mông. Tuy nhiên, hoạt động du lịch cộng đồng tại địa phương phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; người dân tham gia hoạt động du lịch còn mang tính tự phát, hạn chế về số lượng và chất lượng; trình độ chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ của lao động địa phương còn thấp; du lịch chưa thực sự trở thành sinh kế mang lại nguồn thu nhập bền vững và ổn định cho phần lớn cộng đồng. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu nhằm tìm kiếm giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho du lịch cộng đồng tại địa phương.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu chung: Đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Mù Cang Chải thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực và hoạt động du lịch cộng đồng tại địa bàn.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch.
    2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái giai đoạn 2019–2023.
    3. Xác định mục tiêu, định hướng và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Mù Cang Chải trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng nguồn nhân lực (lao động là cộng đồng địa phương) phục vụ phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu chất lượng nguồn nhân lực bản địa, các tiêu chí đánh giá (thể lực, tâm lực, trí lực) và các yếu tố tác động đến quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch cộng đồng.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Tác giả đã hệ thống hóa các khái niệm, quy định pháp luật và mô hình lý thuyết chuyên ngành du lịch:

  • Khái niệm Du lịch cộng đồng (Community-Based Tourism - CBT): Trích dẫn định nghĩa tại Khoản 15 Điều 3 Luật Du lịch 2017; các định nghĩa học thuật của tổ chức Pachamama, Istituto Oikos (1996), Responsible Ecological Social Tours (REST, 2007), cùng nghiên cứu của Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas (2009).
  • Điều kiện phát triển du lịch cộng đồng: Gồm 7 điều kiện then chốt: (1) Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn; (2) Yếu tố cộng đồng dân cư; (3) Nhu cầu của khách du lịch; (4) Khả năng tiếp cận điểm đến; (5) Khả năng cung ứng dịch vụ du lịch; (6) Sự hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ; (7) Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch.
  • Khái niệm và cấu trúc chất lượng nguồn nhân lực du lịch: Dựa trên quan điểm của các tác giả Vũ Thị Mai, Mai Quốc Chánh và định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về sức khỏe. Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá toàn diện qua 3 thành tố:
    • Thể lực: Tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần theo tiêu chuẩn phân loại tại Quyết định số 1613/QĐ-BYT và Thông tư 13/2007/TT-BYT của Bộ Y tế.
    • Tâm lực: Ý thức kỷ luật, đạo đức nghề nghiệp và 6 chỉ số thái độ cốt lõi (tuân thủ mệnh lệnh, chủ động, trung thực, tinh thần hợp tác, khả năng học hỏi và động lực làm việc).
    • Trí lực: Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, 10 kỹ năng mềm cơ bản, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và trình độ ngoại ngữ.
  • Thang đo mức độ tham gia của cộng đồng: Ứng dụng thang đo 7 bậc tham gia của Pretty để đánh giá mức độ tham gia của người dân bản địa vào các hoạt động du lịch.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ sách, báo cáo chuyên ngành, cổng thông tin điện tử của chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý du lịch.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Thống kê, phân loại và đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, lượng khách, doanh thu và thực trạng nhân lực.
  • Nguồn dữ liệu thực tế:
    • Báo cáo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái; Phòng Thủy lợi huyện Mù Cang Chải; UBND huyện Mù Cang Chải.
    • Số liệu điều tra khảo sát thực tế năm 2019 trên địa bàn huyện với quy mô $n = 70$ hộ gia đình (phân chia theo 42 hộ khá, 20 hộ trung bình, 8 hộ nghèo - cận nghèo).
    • Kế thừa kết quả xử lý dữ liệu khảo sát theo thang đo Pretty từ công trình của tác giả Nguyễn Thị Thanh Kiều (2021).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch

Chương 1 xây dựng khung lý thuyết toàn diện về mối quan hệ giữa du lịch cộng đồng và nguồn nhân lực bản địa. Luận điểm trọng tâm khẳng định:

  • Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch bền vững, lấy người dân bản địa làm trung tâm, do cộng đồng sở hữu, quản lý và hưởng lợi trực tiếp nhằm xóa đói giảm nghèo và bảo tồn văn hóa.
  • Nguồn nhân lực du lịch bao gồm lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp. Trong du lịch cộng đồng, nguồn nhân lực mang đặc thù xuất phát điểm thấp: phần lớn là nông dân chuyển dịch sinh kế sang làm dịch vụ, tính chuyên nghiệp chưa cao, hạn chế về trình độ ngoại ngữ và kỹ năng phục vụ.
  • Đánh giá chất lượng nguồn nhân lực du lịch cộng đồng không chỉ dựa vào thể lực và trí lực (chuyên môn, kỹ năng, tin học, ngoại ngữ) mà yếu tố tâm lực (thái độ phục vụ, tính trung thực, tính gắn kết cộng đồng) đóng vai trò quyết định, chiếm tới 75% sự thành công trong trải nghiệm của du khách.

Chương 2: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Mù Cang Chải, Yên Bái

Chương 2 tập trung phân tích tổng quan điều kiện tự nhiên - xã hội, tài nguyên du lịch, thị trường khách và thực trạng nguồn nhân lực tại Mù Cang Chải:

  • Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch: Huyện có diện tích $1.199\text{ km}^2$, nằm ở độ cao $1.000\text{ m}$ dưới chân dãy Hoàng Liên Sơn, gồm 1 thị trấn và 13 xã, dân số có tới 91% là đồng bào H'Mông. Danh thắng ruộng bậc thang có diện tích 700 ha (tập trung hơn 47% tại La Pán Tẩn, Chế Cu Nha, Dế Su Phình) được xếp hạng Di tích danh thắng cấp Quốc gia năm 2007; điểm bay dù lượn đèo Khau Phạ; khu bảo tồn loài sinh vật cảnh xã Chế Tạo; các làng nghề truyền thống như dệt thổ cẩm bản Dề Thàng (xã Chế Cu Nha - công nhận năm 2019 với 35 hội viên), nấu rượu thóc men lá bản La Pán Tẩn, chế tác khèn Mông và rèn đúc thủ công.
  • Hoạt động du lịch và thị trường khách:
    • Khách nội địa chiếm trên 80% tổng lượt khách, chủ yếu đến từ Đồng bằng sông Hồng và vùng Trung du miền núi Bắc Bộ.
    • Khách quốc tế đến từ Pháp, Anh, Đức, Mỹ, Canada, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.
    • Năm 2019, Mù Cang Chải đón 212.000 lượt khách, chiếm khoảng 45%–60% tổng lượng khách của tỉnh Yên Bái; doanh thu du lịch huyện năm 2019 đạt 3,8 tỷ đồng (chiếm gần 60% tổng doanh thu dịch vụ du lịch toàn tỉnh là 4,7 tỷ đồng).
Chỉ tiêu thống kê du lịch huyện Mù Cang Chải Số liệu ghi nhận Ghi chú / Nguồn
Diện tích tự nhiên toàn huyện $1.199\text{ km}^2$ 1 thị trấn, 13 xã
Diện tích ruộng bậc thang danh thắng $700\text{ ha}$ Di tích quốc gia (2007)
Tỷ lệ che phủ rừng Trên $60%$ Sinh thái nguyên sơ
Lượng khách du lịch đến huyện (năm 2019) $212.000\text{ lượt}$ Sở VHTTDL Yên Bái
Doanh thu du lịch huyện (năm 2019) $3,8\text{ tỷ đồng}$ Chiếm ~60% toàn tỉnh
Tổng cơ sở lưu trú (thời điểm 2020) $103\text{ cơ sở}$ Gồm 71 nhà hàng, phục vụ >2.700 khách/ngày
Số hộ kinh doanh homestay $65\text{ hộ}$ Hơn 900 buồng/giường
Tổng số lao động tham gia du lịch toàn huyện $\approx 2.200\text{ người}$ Số liệu hết năm 2020
Số lao động du lịch trực tiếp $\approx 630\text{ người}$ Chiếm 28,6% tổng LĐ du lịch
Tỷ lệ lao động trực tiếp qua bồi dưỡng nghiệp vụ $14,7%$ 88 người được đào tạo
Tỷ lệ nhân lực du lịch có trình độ ngoại ngữ $\approx 0,5%$ Rất hạn chế
  • Quy mô và cơ cấu lao động tại các hộ gia đình khảo sát: Khảo sát trên mẫu $n = 70$ hộ tham gia hoạt động du lịch năm 2019 cho thấy số lượng lao động/hộ phân bổ không đồng đều giữa các nhóm kinh tế:
Nhóm hộ gia đình Tỷ lệ hộ có 1–2 lao động (%) Tỷ lệ hộ có 3–4 lao động (%) Tỷ lệ hộ có $\ge 5$ lao động (%) Tổng số hộ ($n=70$)
Nhóm hộ khá 59,90% (25 hộ) 30,36% (15 hộ) 9,74% (2 hộ) 42 hộ
Nhóm hộ trung bình 72,20% (15 hộ) 27,78% (5 hộ) 0,00% (0 hộ) 20 hộ
Nhóm hộ nghèo – cận nghèo 71,34% (5 hộ) 28,66% (3 hộ) 0,00% (0 hộ) 8 hộ
  • Mức độ tham gia của cộng đồng theo thang đo Pretty: Số liệu phản ánh người dân chủ yếu tham gia ở mức độ thụ động và cung cấp thông tin, thiếu sự tham gia chủ động ở cấp độ quản lý và lập kế hoạch:
Bậc thang đo mức độ tham gia (Pretty) Hoạt động bảo vệ TNTN (%) Hoạt động cung ứng DV & lập kế hoạch (%) Hoạt động quảng bá du lịch (%)
Bậc 1: Tham gia thụ động 28,0% 8,0% 24,0%
Bậc 2: Tham gia cung cấp thông tin 34,9% 9,7% 38,3%
Bậc 3: Tham gia khuyến khích vật chất 9,4% 54,6% 10,0%
Bậc 5: Tham gia chức năng 7,7% 10,0% 6,6%
Bậc 6: Tham gia tương tác 4,0% 4,9% 7,7%
Bậc 7: Tham gia chủ động 0,0% 0,6% 4,6%

Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Mù Cang Chải, Yên Bái

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ mục tiêu và định hướng phát triển nhân lực du lịch của huyện:

  1. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực: Ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực gắn với quy hoạch tổng thể du lịch cộng đồng; kiểm tra, giám sát tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ du lịch tại các bản làng.
  2. Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo tại địa phương, liên kết đào tạo tại chỗ: Phối hợp giữa chính quyền huyện với các cơ sở đào tạo chuyên ngành (như Trường Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch) để mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn ngay tại thôn bản về kỹ năng giao tiếp, vệ sinh an toàn thực phẩm, nghiệp vụ buồng/phòng homestay, cách chế biến ẩm thực và mở rộng lớp dạy ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Pháp).
  3. Khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực là cộng đồng địa phương: Tích cực thu hút đồng bào dân tộc thiểu số chuyển dịch lao động sang làm du lịch; gìn giữ và khai thác tay nghề thủ công của các nghệ nhân dệt thổ cẩm, chế tác khèn, rèn đúc và nấu rượu men lá để tạo sản phẩm quà tặng lưu niệm chất lượng cao.
  4. Thu hút dự án và chia sẻ lợi ích kinh tế: Trích một phần doanh thu du lịch tái đầu tư vào quỹ cộng đồng để hỗ trợ người dân phát triển năng lực; tiếp tục mở rộng chính sách hỗ trợ vay vốn không lãi suất cho các hộ dân đầu tư nâng cấp hạ tầng lưu trú và công trình vệ sinh đạt chuẩn.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính kèm số liệu thực tiễn

  • Phản ánh trung thực bức tranh hạ tầng và nhân lực du lịch huyện Mù Cang Chải tính đến năm 2020: toàn huyện có 103 cơ sở lưu trú (trong đó có 65 hộ homestay với hơn 900 giường buồng), 71 nhà hàng phục vụ trên 2.700 lượt khách/ngày.
  • Lượng lao động tham gia hoạt động du lịch đạt khoảng 2.200 người, trong đó lao động trực tiếp là 630 người. Tỷ lệ lao động trực tiếp được bồi dưỡng nghiệp vụ chỉ đạt $14,7%$ (88 người) và tỷ lệ lao động có trình độ ngoại ngữ ở mức rất thấp ($\approx 0,5%$).
  • Khảo sát cho thấy phần lớn các hộ kinh doanh du lịch chỉ có từ 1–2 lao động trực tiếp tham gia (chiếm từ $59,90%$ đến $72,20%$ tùy nhóm hộ).
  • Chứng minh qua thang đo Pretty rằng mức độ tham gia của cộng đồng vào bảo vệ tài nguyên chủ yếu dừng ở mức cung cấp thông tin ($34,9%$) và thụ động ($28,0%$), hoàn toàn vắng bóng sự tham gia chủ động ($0%$).

Giải pháp và kiến nghị

  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ: Quản lý nhà nước; Đào tạo liên kết tại chỗ; Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực bản địa gắn với nghề truyền thống; Trích quỹ lợi nhuận và hỗ trợ vốn vay ưu đãi.
  • Đề xuất mô hình lồng ghép bảo tồn văn hóa (múa khèn, dệt lanh, nấu rượu thóc) với dịch vụ trải nghiệm du lịch cộng đồng nhằm nâng cao sinh kế và giữ chân du khách.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực tế có giá trị về cơ cấu lao động hộ gia đình và mức độ tham gia của cộng đồng dân cư vùng cao Mù Cang Chải vào hoạt động du lịch.
  • Đóng góp cơ sở thực tiễn phục vụ việc hoạch định chính sách đào tạo nghề và nâng cao năng lực cho lao động du lịch là đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Yên Bái.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu khảo sát thực địa tại các hộ gia đình tập trung vào mẫu $n = 70$ hộ thực hiện năm 2019 và các số liệu thứ cấp giai đoạn 2019–2021, thời điểm ngành du lịch chịu ảnh hưởng lớn bởi đại dịch COVID-19 dẫn đến doanh thu và lượng khách quốc tế có biến động bất thường; một số bảng số liệu thứ cấp chưa cập nhật được chuỗi dữ liệu đa năm đồng bộ sau năm 2022.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra với cỡ mẫu lớn hơn trên toàn bộ 13 xã của huyện; nghiên cứu sâu hơn về tác động của chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tiếp thị du lịch cộng đồng và đào tạo trực tuyến cho đồng bào vùng cao.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Việt Nam học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Du lịch học và Quản lý văn hóa đang thực hiện khóa luận, đề án về du lịch cộng đồng và phát triển bền vững vùng Tây Bắc.
    • Cán bộ quản lý văn hóa - du lịch, chính quyền địa phương cấp huyện/xã tại các tỉnh miền núi phía Bắc có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Dữ liệu khảo sát cơ cấu lao động theo nhóm hộ tại Chương 2.
    • Bảng phân tích mức độ tham gia của người dân theo 7 bậc thang đo Pretty.
    • Quy trình thực nghiệm mô hình bảo tồn làng nghề thủ công gắn liền với các dịch vụ homestay bản địa (Bản Lìm Mông, La Pán Tẩn, Chế Cu Nha).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận tổng số lao động tham gia vào ngành du lịch tại huyện Mù Cang Chải đến hết năm 2020 là bao nhiêu? Theo số liệu thống kê trong khóa luận, toàn huyện Mù Cang Chải có khoảng 2.200 người tham gia vào hoạt động du lịch. Trong đó, lực lượng lao động trực tiếp có khoảng 630 người và phần còn lại là lực lượng lao động gián tiếp.

2. Tỷ lệ lao động du lịch trực tiếp đã qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ tại Mù Cang Chải đạt mức nào? Tính đến năm 2020, trong số khoảng 630 lao động trực tiếp, chỉ có 88 người đã được bồi dưỡng thông qua các lớp nghiệp vụ du lịch do Trường Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch phối hợp với UBND huyện tổ chức, đạt tỷ lệ khoảng $14,7%$. Tỷ lệ lao động có trình độ ngoại ngữ chỉ đạt khoảng $0,5%$.

3. Mức độ tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động bảo vệ tài nguyên du lịch theo thang đo Pretty đạt kết quả ra sao? Kết quả xử lý số liệu khảo sát cho thấy người dân tham gia bảo vệ tài nguyên chủ yếu ở Bậc 2 – Cung cấp thông tin ($34,9%$) và Bậc 1 – Tham gia thụ động ($28,0%$). Tỷ lệ tham gia chủ động (Bậc 7) ghi nhận mức $0%$, cho thấy cộng đồng chưa thực sự làm chủ công tác quản lý tài nguyên du lịch.

4. Chính quyền huyện Mù Cang Chải từng triển khai chính sách tài chính cụ thể nào để hỗ trợ người dân làm du lịch cộng đồng? Năm 2014, huyện Mù Cang Chải đã hỗ trợ các hộ gia đình tại bản Thái Kim Nọi (thị trấn) và một số hộ người H'Mông ở xã La Pán Tẩn vay vốn 20 triệu đồng không tính lãi suất trong thời hạn 2 năm để sửa sang nhà cửa và xây dựng công trình vệ sinh phục vụ khách du lịch.

5. Làng nghề dệt thổ cẩm truyền thống nào trên địa bàn huyện đã được UBND tỉnh Yên Bái công nhận bằng làng nghề? Năm 2019, UBND tỉnh Yên Bái đã cấp bằng công nhận Làng nghề Dệt thổ cẩm tại bản Dề Thàng, xã Chế Cu Nha, huyện Mù Cang Chải, hiện có 35 hội viên phụ nữ tham gia sản xuất thủ công từ khâu trồng lanh, dệt vải, in sáp ong đến nhuộm chàm và thêu hoa văn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vương Thị Thanh Thảo đã phân tích toàn diện thực trạng phát triển du lịch cộng đồng và chất lượng nguồn nhân lực bản địa tại huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Công trình chỉ rõ sự mất cân đối giữa tiềm năng tài nguyên du lịch phong phú với chất lượng nguồn lao động còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ. Các giải pháp đề xuất tập trung vào quản lý nhà nước, liên kết đào tạo tại chỗ, khai thác thế mạnh nghề truyền thống và chia sẻ lợi ích kinh tế nhằm hướng tới mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại địa phương.