CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực cán bộ công chức hành chính 1. Một số khái niệm Ngày 13 tháng 11 năm 2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII Luật Cán bộ công chức được thông qua. Đây là văn bản pháp luật cao nhất và là văn bản quy định về cán bộ công chức.
Trong Khoản 1 và 2 điều 4 đó ghi rõ: 1. Cán bộ: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Công chức: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Nghị định 06/2010/NĐ-CP ban hành ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định những người là công chức nêu tại khoản 2 Điều 4 và khoản 1 Điều 32 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
Căn cứ xác định công chức: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân 10 sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này”. Tại Khoản 1 mục b Điều 6 của Nghị định 06/2010/NĐ-CP có quy định về “Công chức trong cơ quan hành chính ở cấp tỉnh, cấp huyện: Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân”. Tại mục c Khoản 1 Điều 6 của Nghị định 06/2010/NĐ-CP có quy định về “Công chức trong cơ quan hành chính ở cấp tỉnh, cấp huyện: Trưởng ban, Phó Trưởng ban, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế thuộc Ủy ban nhân dân”. Tại Điều 8 chương 2 Nghị định 24/2014 ban hành ngày 04 tháng 04 năm 2014 về “Tổ chức các sở thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh” có quy định “Các sở được tổ chức thống nhất ở các địa phương” trong khoản 7 có ghi “Sở Giao thông vận tải: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt đô thị; vận tải; an toàn giao thông; quản lý, khai thác, duy tu, bảo trì hạ tầng giao thông đô thị gồm: Cầu đường bộ, cầu vượt, hè phố, đường phố, dải phân cách, hệ thống biển báo hiệu đường bộ, đèn tín hiệu điều khiển giao thông, hầm dành cho người đi bộ, hầm cơ giới đường bộ, cầu dành cho người đi bộ, bến xe, bãi đỗ xe”.
Như vậy căn cứ vào Khoản 1 Điều 6 Nghị định 06/2010/NĐ-CP quy định Công chức trong cơ quan hành chính ở cấp tỉnh và Nghị định 24/2014 ban hành ngày 04 tháng 04 năm 2014 về “Tổ chức các sở thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh” ở trên thì Sở giao Thông là Tổ chức cơ sở thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Như vậy, theo quy định của Luât Cán bộ, công chức năm 2008 thì cán bộ và công chức có những tiêu chí chung là: công dân Việt Nam; trong biên chế; hưởng lương từ ngân sách nhà nước; giữ một công vụ, nhiệm vụ thường xuyên; làm việc trong công sở; được phân định theo cấp hành chính. Bên cạnh đó, giữa cán bộ và công chức được phân định rõ theo tiêu chí riêng, gắn với cơ chế hình thành. 11 Tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ.
Việc quản lý cán bộ phải thực hiện theo các văn bản pháp luật tương ứng chuyên ngành điều chỉnh hoặc theo Điều lệ. Tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạn hành chính nhất định) được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Do vậy, công chức hành chính được điều chỉnh bởi Nghị định số 24/2010/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức và các văn bản có liên quan.
- Nguồn nhân lực (NNL) Theo từ điểm Bách khoa toàn thư mở rộng thì “Nguồn nhân lực là những người tạo nên lực lượng lao động của một tổ chức, lĩnh vực kinh doanh hoặc nền kinh tế”.”Vốn con người” đôi khi cũng được sử dụng đồng nghĩa với khái niệm”nguồn nhân lực”, mặc dù vốn con người thường đề cập đến hiệu ứng hẹp hơn (nghĩa là kiến thức mà các cá nhân thể hiện và tăng trưởng kinh tế). Theo tác giả Bùi Văn Nhơn (2006) trong cuốn Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội định nghĩa “Nhân lực có thể được hiểu là nguồn lực của tất cả các cá nhân tham gia vào bất cứ hoạt động nào của tổ chức, không kể vai trò của họ trong tổ chức đó như thế nào” và “Nguồn nhân lực hay nguồn lực lao động bao gồm tất cả những người trong độ tuổi lao động (theo quy định của pháp luật) có khả năng lao động (trừ những người tàn tật, mất sức lao động loại nặng) và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế đang làm việc”. Theo tác giả Trần Kim Dung (2005) trong cuốn Quản trị nguồn nhân lực thì “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng về lao động, gồm cả phẩm chất, trình độ chuyên môn, kiến thức, óc sáng tạo, năng lượng nhiệt huyết và kinh nghiệm sống của con người nhằm đáp ứng cơ cấu kinh tế - xã hội”. - Quản trị nguồn nhân lực (QTNNL) 12 Cũng theo tác giả Trần Kim Dung (2005) QTNNL được hiểu là “hệ thống các chính sách hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo, phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên”.
Vai trò, trách nhiệm, đặc điểm của CBCC hành chính nhà nước 1. Vai trò, trách nhiệm của cán bộ, công chức hành chính nhà nước * Vai trò: Trong hệ thống chính quyền ở nước ta thì CBCC hành chính các cấp cơ sở cũng như trong các cơ quan hành chính có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân. CBCC trong các cơ quan hành chính nhà nước là những người gần dân nhất, sát dân nhất, mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có đến được với nhân dân hay không, đến đúng, đến đủ và có được nhân dân tiếp thu đúng đắn hay không đều thông qua đội ngũ CBCC này. Đội ngũ CBCC trong các cơ quan hành chính nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy cơ quan hành chính nhà nước, trong hoạt động thi hành nhiệm vụ, công vụ.
Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền các cấp nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC. Có thể nói, đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân đến nay. Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, CBCC trong cơ quan hành chính nhà nước nói riêng có vị trí nền tảng… Cơ quan hành chính nhà nước mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ CBCC cơ quan hành chính nhà nước. CBCC cơ quan hành chính nhà nước góp phần quyết định sự thành bại của chủ trương, đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước.
Không có đội ngũ CBCC cơ sở vững mạnh thì dù đường lối, chủ trương chính trị có đúng đắn cũng khó biến thành hiện thực. CBCC trong các cơ quan hành chính nhà nước vừa là người trực tiếp đem các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, vừa là người phản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và 13 phù hợp với thực tiễn. Ở khía cạnh này, họ có vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân. CBCC trong các cơ quan hành chính nhà nước có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của cơ quan hành chính nhà nước.
Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ mang tính tự quản theo pháp luật và bảo toàn tính thống nhất của thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở thông qua việc giải quyết các công việc hàng ngày có tính chất quản lý, tự quản mọi mặt ở địa phương. Họ còn có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.