phần mở đầu, kết luận; nội dung đề tài chia 3 phần: Phần 1: Một số vấn đề chung về nghiên cứu khoa học và thông tin khoa học. / Phần 2: Thực trạng công tác nghiên cứu khoa học và théng tin khoa học của Kiểm toán Nhà nước thời gian qua. Phần 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và và thông tin khoa học của Kiểm toán Nhà nước. 3 Phan 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE NGHIEN CUU KHOA HOC VA THONG TIN KHOA HOC 1.
NGHIEN CUU KHOA HOC VA THONG TIN KHOA HOC 1.1 Nghiên cứu khoa.học Trong điểu kiện phát triển nền kinh tế trí thức hiện nay, khoa học và công nghệ ngày càng được phát triển nhanh chóng. Ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, có vai trò quan trọng trong sự phát triển của lực lượng.sản xuất xã hội. Trong Từ điển bách khoa Việt Nam, thuật ngữ “khoa học” được sử dụng để chỉ “Hệ thống các kiến thức về tự nhiên, xã hội và tư đuy, được tích luỹ trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, thể hiện bằng những khái niém, phần đoán, học thuyết ”. Như vậy về bản chất, khoa học là hệ thống các trí thức của con người về thế giới khách quan và các quy luật vận động của thế giới khách quan đó.
Là chủ thể của quá trình nhận thức, hoạt động có ý thức và có mục đích của con người để nhận thức thế giới khách quan được gọi là hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH). Đặc điểm của hoạt động NCKH là mang tính chất tìm tòi, sáng tạo để thu nhận được những tri thức khoa học mới. Với quan niệm như vậy hoạt động khoa học vừa là một hình thức hoạt động, vừa là một công cụ để nhận thức của con người. Những đặc điểm cơ bản của hoạt động khoa học là: Thứ nhất, hoạt động khoa học một loạt lao động trí óc mang tính sáng tạo, là sự tìm kiếm, phát hiện các quy luật khách quan chỉ phối các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.
Sự sáng tạo (creativify) ở đây được hiểu là năng lực suy nghĩ và đưa ra các ý tưởng hoặc giải pháp mới, không có sự lặp lại trong hoạt động NCKH. Thứ hai, hoạt động khoa học thường đòi hỏi đầu tư lớn, mất nhiều thời gian, công sức và có tính rủi ro cao. Theo thống kế của tổ chức UNESCO thì 4 tỷ lệ nghiên cứu thành công của nghiên cứu cơ bản là 25%, nghiên cứu ứng dụng là 40%, nghiên cứu triển khai thử nghiệm là 60%, nghiên cứu tâm lý xã hội là 20%. Thứ ba, hoạt động khoa học có tính kế thừa và tích láy.
Những trì thức khoa học là kết quả của các hoạt động NCKH của nhiều thế hệ, có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cá nhân hoặc cơ sở nghiên cứu và khi được phổ biến rộng rãi sẽ trở thành tài sản chung của toàn xã hội. Hoạt động NCKH hiện tại luôn kế thừa và phát triển kết quả hoạt động khoa học của các thời kỳ trước, làm cho nó ngày càng phát triển và hoàn thiện. Thứ tư, kết quả của hoạt động NCKH thường là những sản phẩm ở dạng vô hình và có hàm lượng trì thức cao. Do vậy sản phẩm của hoạt động.
khoa học rất đễ bị chiếm đoạt đưới nhiều hình thức song lại rất khó kiểm soát, phát hiện. Vì thế lợi ích của người nghiên cứu khoa học cần phải được bảo vệ bằng những phương tiện hay cơ chế đặc biệt. Việc nhận thức được đầy đủ các đạc điểm trên đây của hoạt động NCKH có ý nghĩa to lớn để các nhà quản lý khoa học đưa ra được các chính sách, biện pháp quản lý phù hợp, vừa bảo vệ lợi ích của tác giả, vừa thúc đẩy khoa học phát triển phục vụ cho đời sống con người. Thông tin khoa học Công tác thông tin khoa học (TTKH) là những hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ, phổ biến thông tin khoa học; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ thông tin khoa học.
Các hình thức hoạt động thông tin khoa học - công nghệ bao gồm: thông tin bằng chữ viết, thông tin bằng tiếng nói, thông tin qua sách, thông tin bằng hình ảnh. Thông tin bằng chữ viết - Thông tin qua báo chí in: bao gồm báo và tạp chí là những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội. Các thông tin khoa học - công nghệ thường được dang tải trên các tạp chí chuyên ngành, các nội san, bản tin khoa học. 5 Tạp chí là những ấn phẩm định kỳ có nội dung chuyên sâu vào một hay một số vấn đề, lĩnh vực về đời sống xã hội, khoa học, kỹ thuật.
Định kỳ xuất bản của tạp chí có thể là 1 tuần, nửa tháng, 01 tháng, 02 tháng. Cũng có tạp chí xuất bản 3, 4, 5 hoặc 6 tháng/01kỳ. - Thông tin qua sách Sách là loại hình thông tin đại chúng xuất bản không định kỳ, được xuất bản bằng công nghệ, kỹ thuật in ấn. Thời gian gần đây mới xuất hiện sách điện tử - loại sách được truyền qua mang máy tính, ghi vào đĩa hoặc dưới dạng sản phẩm đơn chiếc cầm tay nhưng vẫn chuyển tải thông tin bằng chữ viết và hình ảnh được con người tiếp nhận bằng thị giác.
Thông qua loại hình sách đã cung cấp cho nhân dân một khối lượng kiến thức, thông tin to lớn trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, văn học nghệ thuật, khoa học - công nghệ, pháp luật v. Nhiều bộ sách có giá trị cao, các công trình nghiên cứu về chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học - công nghệ, quản lý kinh tế, các công trình tổng kết các giai đoạn cách mạng, tổng kết thế kỷ XX, dự báo thế kỷ XXI. đã mang đến cho công chúng nhiều thông tin có giá trị, nâng cao tri thức cho công chúng. Thông tin bằng tiếng nói - Thông tin qua phát thanh Phát thanh là loại hình thông tin đại chúng mà nội dung thông tin được chuyển tải bằng âm thanh, tiếng nói qua làn sóng vô tuyến điện và truyền thanh qua hệ thống dây dẫn.
Phát thanh có khả năng to lớn trong việc cung cấp cho công chúng những thông tin nhanh nhất, Phương tiện, thiết bị phát và thu tín hiệu phát thanh gọn nhẹ hơn. Phát thanh có lợi thế trong việc đưa thông tin tới người nghe ở các vùng hiểm trở, cách xa đô thị kể cả những người khiếm thị và người mù chữ. Phát thanh nước ta đã không ngừng cải tiến phương thức thể hiện và truyền tai thong tin, liên tục tăng thời lượng, mở rộng phạm vi phủ sóng và 6 đối tượng phục vụ, nâng cao chất lượng nội dung và hiệu quả thông tin, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu thông tin của nhân dân. Thông tin bằng hình ảnh - Thông tin qua truyền hình Truyền hình là loại hình thông tin đại chúng chuyển tải thông tin bằng sự kết hợp hài hoà giữa hình ảnh động và âm thanh, tạo ra khả năng chuyển tải các nội dung thông tin vô cùng phong phú, hấp dẫn và hiệu quả.
Truyền hình có khả năng vượt trội trong việc đa dạng hoá chức năng, đấp ứng nhu cầu thông tin xã hội theo một đải tần rộng. Truyền hình là trường học, lại vừa là sân chơi, là công cụ giao lưu, là phương tiện giải quyết nhiều dịch vụ hiện đại. Mạng truyền dẫn truyền hình từ trung ương đến các địa phương với cơ sở vật chất, kỹ thuật được đổi mới và hiện đại hoá, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới không chỉ mở rộng diện phủ sóng, nâng cao chất lượng hình ảnh và âm thanh, mà còn có khả năng đáp ứng nhu cầu hội nhập thông tin khu vực và thế giới. - Thông tin qua điện ảnh Điện ảnh là loại hình nghệ thuật đồng thời cũng là một trong những phương tiện thông tin đại chúng.
Công chúng tiếp nhận các thông tin qua ngôn ngữ điện ảnh, đồng thời thực hiện quá trình xã hội hoá thông tin để đạt. đến một sự hiểu biết chung của xã hội. Với loại hình này chỉ sử dụng loại phim tài liệu và phim khoa học, với những đặc trưng của thông tin khoa học, phản ánh hiện thực khách quan, không hư cấu. Thong tin trén mang Internet (da phương tiện) Internet là mạng thông tin diện rộng bao trùm toàn câu, hình thành trên cơ sở kết nối các máy tính điện tử, cho phép liên kết con người lại bằng thông tin và kết nối nguồn tri thức đã tích luỹ được của toàn nhân loại trong một mạng lưu thông thống nhất.
Quy mô, phạm vi ảnh hưởng của thông tin trên mạng Internet rộng lớn hơn nhiều so với các phương tiện thông tin thông thường khác. Với Internet, mọi người có khả năng và điều kiện rất thuận lợi trong việc tiếp cận trực tiếp với các nguồn thông tin khoa học - công nghệ. Nội dung hoạt động thông tin khoa học bao gồm: Các hoạt động thu thập và xử lý các dữ liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức nhằm tạo lập nguồn tin khoa học và công nghệ. Để thực hiện hoạt động này người ta tiến hành sử dụng các phương tiện ghi chép trên giấy, xử lý tổng hợp trên máy tính thông qua các phần mềm.
Quản lý, lưu giữ nguồn tin khoa học và công nghệ: thông qua các qui trình tổ chức sắp xếp các tài liệu, tạo lập các cơ sở đữ liệu trên máy tính. Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ trên cơ sở hợp đồng dịch vụ với các tổ chức, cá nhân. Trong hoạt động này căn cứ vào yêu cầu của đối tác cần thông tin, người ta tiến hành tra cứu, tìm kiếm và cung. cấp các tài liệu cần thiết (ở dạng giấy hoặc điện tử) cho đối tác trên cơ sở thực hiện các hợp đồng dịch vụ.
- Cung cấp, trao đổi thông tin miễn phí theo chủ trương, chính sách của nhà nước nhằm tuyên truyền, phổ biến tri thức hoặc để hợp tác phát triển khoa học và công nghệ. Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch hoạt động thông tin khoa học và công nghệ; hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ hoạt động thông tin khoa học và công nghệ. Hướng dẫn, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ; Xây dựng các cơ sở dữ liệu tổng hợp, chuyên để và các trang thông tin điện tử về khoa học và công nghệ; ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến trong hoạt động thông tin khoa học và công nghệ.