CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 Khái quát về Công ty Chứng khoán 1.1 Khái niệm của Công ty Chứng khoán Khái niệm về CTCK có thể tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, theo quyết định số 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 của UBCKNN: “CTCK là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số các loại hình kinh doanh chứng khoán”. Theo quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì Công ty chứng khoán được định nghĩa là “tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán”. Theo giáo trình Thị trường chứng khoán trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, công ty chứng khoán là “một định chế trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán”. Như vậy, CTCK được hiểu là một tổ chức tài chính trung gian, được thành lập theo quy định của pháp luật, thực hiện một và/ hoặc một số hoạt động trên TTCK.2 Đặc điểm và vai trò của Công ty Chứng khoán 1.1 Đặc điểm của công ty chứng khoán - Trung gian tài chính CTCK là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực tài chính, tính chất trung gian được thể hiện trong việc CTCK được là tổ chức trung gian giữa nhà phát hành và nhà đầu tư và giữa các nhà đầu tư với nhau.
Cụ thể: + Trung gian giao dịch: Thị trường chứng khoán hoạt động theo nguyên tắc trung gian. Việc mua bán chứng khoán giữa các nhà đầu tư với nhau đều phải thông qua công ty chứng khoán. Do đó, CTCK có vai trò là trung gian giao dịch, CTCK có nhiệm vụ thanh toán tiền hoặc cổ phiếu cho các nhà đầu tư thông qua tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư được mở tại CTCK đó. SV: Mai Trâm Anh 2 MSV: 10A42005 + Trung gian về thông tin: Do yêu cầu phát triển của TTCK, các CTCK không chỉ có nhiệm vụ giúp nhà đầu tư thực hiện các lệnh mua bán chứng khoán mà CTCK còn phải cập nhật và cung cấp thông tin liên quan đến thị trường, loại cổ phiếu mà nhà đầu tư đang nắm giữ để giúp các nhà đầu tư có thể nắm bắt kịp thời tình hình diễn biến thị trường để đưa ra những quyết định đúng đắn và sang suốt nhất.
+ Trung gian về vốn: CTCK là một trung gian tài chính, có nhiệm vụ kết nối giữa các chủ thể phát hành (những người cần vốn đầu tư) với những nhà đầu tư (những người đang dư thừa vốn). Đây chính là đặc điểm trung gian về vốn của công ty chứng khoán. + Trung gian về rủi ro: Trung gian về rủi ro của CTCK được hiểu là do CTCK là trung gian giao dịch và thanh toán giữa các nhà đầu tư, giữa chủ thể phát hành và các nhà đầu tư nên rủi ro của các chủ thể này cũng chính là rủi ro của CTCK. + Trung gian về kỳ hạn: Các chứng khoán trên TTCK có thể có kỳ hạn cố định (trái phiếu, tín phiếu), có thể không có kỳ hạn (cổ phiếu) nhưng khi được giao dịch trên thị trường thứ cấp thì chúng đều được chuyển giao qua lại từ người này sang người khác thông qua các CTCK.
Với mỗi nhà đầu tư khác nhau thì sẽ nắm giữ chứng khoán với thời gian khác nhau nên kỳ hạn của chứng khoán với mỗi nhà đầu tư là khác nhau. Do đó, CTCK là trung gian về kỳ hạn. + Trung gian về thanh toán: Do đặc điểm của CTCK là trung gian giao dịch nên CTCK cũng cần phải thanh toán cho hộ nhà đầu tư. Đây chính là đặc điểm về trung gian thanh toán của CTCK.
- Công ty Chứng khoán là loại hình kinh doanh có điều kiện CTCK là một tổ chức tài chính trung gian hoạt động trên TTCK – một thị trường mà những biến động của nó có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế. Do đó, CTCK thuộc loại hình kinh doanh có điều kiện, tức là để có thể tiến hành hoạt động trên TTCK, CTCK phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định cũng như những quy tắc ứng xử riêng của ngành. Những điều kiện này chính là những điểm khác biệt giữa CTCK và các loại hình doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác. SV: Mai Trâm Anh 3 MSV: 10A42005 - Đặc điểm về vốn Để thành lập một CTCK thì phải đáp ứng yêu cầu về mức vốn pháp định mà luật pháp quy định.
Đây là đặc điểm quan trọng nhất để quyết định công ty chứng khoán được phép thực hiện hoạt động nào trên TTCK. Đặc điểm này nhằm đảm bảo mục tiêu bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư. Theo luật chứng khoán năm 2007, mức vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK, CTCK có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh CTCK nước ngoài tại Việt Nam: - Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam - Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam - Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam - Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam - Đặc điểm về sản phẩm Sản phẩm của các CTCK là các dịch vụ tài chính. Đó là các dịch vụ về môi giới, tư vấn, cung cấp đòn bảy tài chính…Các sản phẩm này khác với các sản phẩm thông thường ở chỗ các sản phẩm thông thường thường là mua đứt bán đoạn người mua và người bán thường không liên quan đến nhau nữa khi hết thời hạn bảo hành sản phẩm còn các sản phẩm tài chính thì các nhà đầu tư (những người sử dụng sản phẩm này) có thể sử dụng rất nhiều lần, và thời gian sử dụng nó phụ thuộc vào chất lượng của các sản phẩm đó.
Khi sử dụng sản phẩm của CTCK thì nhà đầu tư với CTCK sẽ có những ràng buộc nhất định với nhau theo quy định của pháp luật. - Đặc điểm về xung đột lợi ích giữa quyền lợi của khách hàng và Công ty chứng khoán. Trong hoạt động của CTCK, bên cạnh việc cung cấp dịch vụ tốt nhất cho khách hàng thì giữa CTCK và khách hàng đôi khi xảy ra mâu thuẫn về lợi ích. Những hoạt động của công ty chứng khoán có thể dẫn đến xung đột lợi ích với khách hàng là hoạt động tư vẫn đầu tư, hoạt động tự doanh và hoạt động môi giới chứng khoán.
Đây là điểm khác biệt trong hoạt động của CTCK với các loại hình kinh doanh trong các lĩnh vực khác do trong các lĩnh vực này thì lợi ích của khách hàng bao giờ cũng gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp. SV: Mai Trâm Anh 4 MSV: 10A42005 - Công ty chứng khoán là loại hình doanh nghiệp hoạt động bị kiểm soát. Xuất phát từ đặc điểm CTCK là một tổ chức tài chính trung gian hoạt động trên TTCK – một thị trường mà những biến động của nó có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế. Do đó các hoạt động của CTCK phải được kiểm soát chặt chẽ bởi các cơ quan quản lý thị trường (UBCKNN, các SGDCK…) bên cạnh đó là cơ chế tự quản của các CTCK để đảm bảo an toàn hoạt động và kiểm soát rủi ro.
- Các đặc điểm khác + Đặc điểm về nhân sự: Đây là lĩnh vực hoạt động có nghiệp vụ phức tạp, có độ rủi ro cao, mức độ ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội lớn nên đòi hỏi nhân viên của công ty chứng khoán phải có chứng chỉ hành nghề do cơ quan có thẩm quyền cấp. + Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật: Khi tiến hành các hoạt động, CTCK phải đáp ứng các yêu cầu về trụ sở phù hợp cho việc kinh doanh chứng khoán. Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm của hoạt động kinh doanh chứng khoán là phải có sàn giao dịch để đáp ứng nhu cầu giao dịch mua bán chứng khoán, trao đổi, tiếp nhận thông tin thị trường của các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất kỹ thuật của CTCK còn là hệ thống trang thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình truyền lệnh, thông báo kết quả giao dịch, sao kê tài khoản hoặc tìm kiếm thông tin… 1.2 Vai trò của công ty chứng khoán Công ty chứng khoán vừa đóng vai trò là nhà đầu tư trên thị trường cho chính mình lại vừa là tổ chức trung gian kết nối giữa người mua và người bán , giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư và hơn nữa còn cung cấp các dịch vụ nhằm bôi trơn thị trường giúp cho thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả hơn và trở thành kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế.
- Đối với tổ chức phát hành Thông qua hình thức bảo lãnh phát hành, công ty chứng khoán sẽ giúp tổ chức phát hành các công đoạn từ việc tư vấn cho doanh nghiệp lựa chọn phương thức xác định giá trị doanh nghiệp, xác định phương án cổ phần hóa, tư vấn phát hành. SV: Mai Trâm Anh 5 MSV: 10A42005 Không những thế công ty chứng khoán còn giúp doanh nghiệp bình ổn giá chứng khoán sau khi phát hành trong giai đoạn đầu. - Đối với các nhà đầu tư tham gia trên thị trường Thông qua hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý các danh mục đầu tư công ty chứng khoán sẽ giúp các nhà đầu tư giảm thiểu chi phí giao dịch, giảm thời gian giao dịch …… do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư. - Đối với nền kinh tế Tham gia thị trường chứng khoán các công ty chứng khoán là các tổ chức tài chính trung gian với vai trò huy động vốn.
Nó thể hiện chức năng quan trọng nhất của thị trường chứng khoán là cung cấp kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế rất hiệu quả. Công ty chứng khoán có vai trò làm cầu nối trung gian, đồng thời là kênh dẫn vốn chảy từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế đang có sự dư thừa vốn đến các bộ phận khác của nền kinh tế khác đang thiếu vốn. Các chủ thể tham gia thị trường bao gồm các nhà phát hành, các nhà đầu tư và các tổ chức tài chính trung gian trong đó các công ty chứng khoán tham gia thị trường , các công ty chứng khoán có bốn vai trò chính : góp phần tạo lập một cơ chế giá cả và điều tiết thị trường, cung cấp các dịch vụ nhằm bôi trơn thị trường, cung cấp cho thị trường một cơ chế chuyển tiền ra tiền mặt, tạo ra các sản phẩm mới cho nền kinh tế.