Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về chất lượng lao động trong các khu công nghiệp 1. Một số vấn đề chung về lao động 1. Khái niệm về lao động Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về lao động.Mác cho rằng, sức lao động hay năng lực lao động tồn tại trong thân thể con người, tức là thân thể người sống.
Mỗi khi con người sản xuất ra giá trị sử dụng nào đó thì phải vận dụng tổng hòa thể lực và trí lực. Sức lao động là tổng hòa toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể sống của con người, mà con người có thể vận dụng trong quá trình lao động sản xuất. Như vậy, sức lao động là năng lực tồn tại trong cơ thể con người do con người chi phối. Sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực.
[17, trang 214] Trong Kinh tế thị trường thì lao động được hiểu là lực lượng và năng lực những người làm lao động sản xuất (bao gồm cả lao động thể lực và lao động trí tuệ) cũng tức là sức lao động. Theo TS Đỗ Minh Cương thì: “Lao động là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất ” [11, trang 24] Lao động còn được hiểu là lực lượng lao động với kỹ năng tương ứng sử dụng các nguồn lực khác nhau tạo ra sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường và xã hội. Thống nhất với các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng, lao động là năng lực mà các cá nhân sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm cả số lượng các cá nhân cũng như tất cả các tiềm năng của cá nhân một con người sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức hay xã hội. Nói cách khác, lao động là tổng hợp tất cả các cá nhân, cùng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội.
Từ định nghĩa chung này có thể xem xét thuật ngữ lao động dưới một số khía cạnh khác nhau. Lao động theo nghĩa rộng: là con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một tổ chức, một doanh nghiệp (DN) có thể tham gia vào quá trình phát triển đất nước, lãnh thổ, DN. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Lao động theo nghĩa hẹp: là bộ phận dân số trong độ tuổi theo quy định của pháp luật đang tham gia lao động. Lao động được hiểu trên hai mặt là số lượng và chất lượng.
Về số lượng, lao động là tổng thể những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động được của họ. Về chất lượng lao động (CLLĐ) thể hiện ở giới tính, sức khỏe, trình độ chuyên môn, ý thức, tác phong, thái độ làm việc của nguồn lao động. Việc nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật cho lao động phải không ngừng “phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đực, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia ñình, cộng đồng và xã hội [12, trang 78]. Khái niệm nguồn lao động (Nguồn nhân lực) Đến nay đã có khá nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu đưa ra các định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực (NNL).
Theo Liên Hợp Quốc thì “NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. [19, trang 143] Ngân hàng thế giới cho rằng: NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. [19, trang 63] Theo tổ chức lao động quốc tế thì NNL của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.
NNL được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. [8, trang 72] Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động.
Nguồn lao động được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng. Như vậy theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn lao động nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học… Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế chính trị có thể hiểu: nguồn lao động là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
Khái niệm chất lượng lao động CLLĐ trong thời kỳ CNH, HĐH là một khái niệm mở, dễ thay đổi theo yêu cầu của các ngành kinh tế. Có thể hiểu, CLLĐ cao là một tập thể NLĐ trong đó các cá nhân đạt tới trình độ mà các ngành kinh tế đòi hỏi về chuyên môn, kinh nghiệm làm việc và khả năng thích ứng tính cách cá nhân đối với công việc. Nói cách khác, CLLĐ được thể hiện ở kiến thức, kỹ năng và thái độ đủ để hoàn thành xuất sắc các công việc chủ yếu, mang tính chiến lược của tổ chức. Hơn nữa, CLLĐ phải thể hiện được nguồn lao động đó có thể đạt được thành tích nhất định đáp ứng được công việc mà họ đã tham gia.
[8, trang 25] CLLĐ là trạng thái nhất định của đội ngũ lao động, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bản chất bên trong của lao động. Khái niệm Khu công nghiệp Định nghĩa ban đầu về KCN được nêu ra trong Quy chế KCN ban hành kèm theo Nghị định số 192/CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính Phủ: KCN được Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hiểu là KCN tập trung do Chính Phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định chuyên sản xuất công nghiệp thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống. Theo Luật Đầu tư (2014): KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Những định nghĩa trên đều phản ánh KCN với tư cách là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong các giai đoạn phát triển, gồm những đặc điểm chủ yếu về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập.
Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của các ngành công nghiệp với sự gia tăng về số lượng các xí nghiệp sản xuất công nghiệp đã đặt ra những yêu cầu mới đối với sự phân bố các xí nghiệp công nghiệp với tư cách là những hoạt động sản xuất đặc thù. Sản xuất công nghiệp ngày càng đòi hỏi phải có không gian lãnh thổ tương đối riêng biệt, tách khỏi các khu dân cư với những điều kiện đặc thù về kết cấu hạ tầng sản xuất, về cơ chế chính sách phát triển. Do đó, sự hình thành và phát triển các KCN với tư cách là không gian lãnh thổ dành riêng cho các hoạt động sản xuất công nghiệp là biểu hiện của trình độ tập trung sản xuất cao hơn, xuất phát từ yêu cầu mới đối với phát triển công nghiệp trên quy mô lớn của từng vùng kinh tế, từng quốc gia trên thế giới. Tính hiệu quả của sản xuất công nghiệp tập trung, với năng suất, chất lượng cao là nhân tố thúc đẩy sự ra đời và phát triển KCN với quy mô và cơ cấu phù hợp.
Chính vì vậy, KCN trở thành động lực của vùng kinh tế. Không có KCN phát triển thì không có vùng kinh tế trọng điểm theo ý nghĩa kinh tế thị trường. Như vậy, KCN là cấu trúc kinh tế phức tạp thể hiện sự tập trung các hoạt động sản xuất công nghiệp của các chủ thể kinh tế khác nhau trong một không gian lãnh thổ với những điều kiện chung về kết cấu hạ tầng, cơ chế chính sách phát triển. Sự hình thành các KCN xuất phát từ yêu cầu phát triển theo hướng tối ưu hoá của sản xuất công nghiệp dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ và các quan hệ thị trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các yếu tố cấu thành chất lượng lao động trong các Khu công nghiệp 1. Yếu tố về thể lực Thể lực của đội ngũ lao động: Là tình trạng sức khỏe, khả năng lao động của họ.