Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Lý luận cơ bản về kiểm toán các dự án đầu tư sử dụng vốn ODA và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Thực trạng kiểm toán các dự án đầu tư sử dụng vốn ODA do Kiểm toán nhà nước thực hiện và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng kiểm toán. Chương 5: Các giải pháp và khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu 12 Chương 2 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN CÁC DỰ ÁN SỬ DỤNG VỐN ODA VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN 2. Đặc điểm dự án đầu tư sử dụng vốn ODA 2.
Dự án đầu tư Theo Luật Xây dựng năm 2013 thì hoạt động xây dựng và công trình xây dựng được hiểu như sau: (i). Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng và các công trình khác.
Theo Luật Đầu tư năm 2014, thì dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Theo Phạm Thanh (2011) và Luật Đầu tư công năm 2014 thì, dự án đầu tư công được hiểu: (i). Dự án đầu tư công là dự án đầu tư sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công. Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các Chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các Chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Hoạt động đầu tư công bao gồm lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư; lập, thẩm định, quyết định chương trình, dự án đầu tư công; lập, thẩm định, phê 13 duyệt, giao, triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công; quản lý sử dụng vốn đầu tư công; theo dõi và đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình dự án đầu tư công. Theo Lưu Trường Kháng (2012), Dự án đầu tư xây dựng công trình là một dự án trong đó hoạt động xây dựng, lắp đặt chiếm quy mô đáng kể. Trong một dự án đầu tư có thể có một hoặc nhiều công trình xây dựng đơn lẻ. Như vậy, dự án đầu tư về bản chất, có thể hiểu là một chương trình hay kế hoạch chi tiết của hoạt động đầu tư - Hoạt động bỏ vốn đầu tư (chi phí) để tạo nên đối tượng đầu tư (vật chất hay tài chính) để thông qua quá trình vận hành, khai thác đối tượng đầu tư có thể đạt được những lợi ích mong muốn (mục đích đầu tư).
Mục đích đầu tư vì thế cũng chính là mục tiêu/kết quả cần đạt tới của dự án đầu tư. Mục tiêu của dự án đầu tư luôn phản ánh lợi ích cần đạt được, các lợi ích này có thể là lợi ích về kinh tế tài chính, kinh tế xã hội và môi trường hoặc đồng thời các lợi ích đó. Dự án đầu tư sử dụng vốn ODA Khái niệm về ODA: Theo Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương - CIEM (2010), thuật ngữ về ODA được chính thức sử dụng kể từ khi bản báo cáo đầu tiên của Ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC) ra đời vào năm 1961: ODA là những luồng tài chính chuyển tới các nước đang phát triển và tới những tổ chức đa phương để chuyển tới các nước đang phát triển mà: (i) được cung cấp bởi các tổ chức chính phủ (trung ương và địa phương) hoặc bởi cơ quan điều hành của các tổ chức này; (ii) có mục tiêu chính là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phúc lợi của các nước đang phát triển; (iii) mang tính chất ưu đãi và có yếu tố không hoàn lại >= 25% (được tính với tỷ suất chiết khấu 10%). Theo Ngân hàng thế giới (2009), ODA được hiểu là một phần của tài chính phát triển chính thức ODF (ODF là tất cả các nguồn tài chính mà chính phủ các nước phát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển), trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng (+) với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ.
Theo CIEM (2010), khái niệm “Hỗ trợ phát triển chính thức” (ODA) bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam kể từ tháng 10 năm 1993 sau khi Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ. Bình thường hóa quan hệ giúp cho Việt Nam khơi thông nguồn vốn huy động từ bên ngoài thông qua hình thức ODA với cộng đồng các nhà tài trợ đa phương và song phương nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, tăng cường năng lực thể chế. của đất nước. 14 Theo thông lệ phổ biến, vốn ODA, vốn vay ưu đãi là nguồn vốn của nhà tài trợ nước ngoài cung cấp cho Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam để hỗ trợ phát triển, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, bao gồm: (i) Vốn ODA viện trợ không hoàn lại là loại vốn ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ nước ngoài; (ii) Vốn vay ODA là loại vốn ODA phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ nước ngoài với mức ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràng buộc và 25% đối với khoản vay không ràng buộc; (iii) Vốn vay ưu đãi là loại vốn vay có mức ưu đãi cao hơn so với vốn vay thương mại, nhưng yếu tố không hoàn lại chưa đạt tiêu chuẩn của vốn vay ODA.
+ Vốn ODA, vốn vay ưu đãi không ràng buộc được hiểu là khoản vốn ODA, vốn vay ưu đãi không kèm theo điều khoản ràng buộc liên quan đến mua sắm hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia tài trợ hoặc một nhóm quốc gia nhất định theo quy định của nhà tài trợ nước ngoài. + Vốn ODA, vốn vay ưu đãi có ràng buộc là khoản vốn ODA, vốn vay ưu đãi có kèm theo điều khoản ràng buộc liên quan đến mua sắm hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia tài trợ hoặc một nhóm quốc gia nhất định theo quy định của nhà tài trợ nước ngoài. + Vốn đối ứng là khoản vốn đóng góp của phía Việt Nam (bằng hiện vật hoặc tiền) trong chương trình, dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi nhằm chuẩn bị và thực hiện chương trình, dự án, được bố trí từ nguồn NSTW, NSĐP, chủ dự án tự bố trí, vốn đóng góp của đối tượng thụ hưởng và các nguồn vốn hợp pháp khác. Như vậy, có thể hiểu ODA chính là khoản vay kết hợp giữa “một phần cho vay ưu đãi” cộng với “một phần cho không”, trong đó yếu tố cho không có thể được hiểu là: phần không hoàn lại và phần ưu đãi; trong đó phần ưu đãi bao gồm: vay với mức lãi suất thấp, thời gian cho vay dài, thời gian ân hạn cao (chỉ trả lãi, chưa phải trả gốc), giá trị cho vay lớn.
Từ các ưu đãi trên nên trong ODA luôn có một tỷ lệ không hoàn lại nào đó. Tất cả quy ra phần cho không (không hoàn lại), theo quy định của DAC phải >=25% thì mới được coi là khoản vốn ODA. Khái niệm về dự án đầu tư sử dụng vốn ODA Theo Đặng Thị Điệp (2012) và Nghị định số 16/2016/NĐ-CP của Chính phủ thì Dự án là tập hợp các đề xuất sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi, vốn đối ứng của Việt Nam có liên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu nhất định, được 15 thực hiện trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định và dựa trên nguồn lực xác định. Dự án được phân loại thành dự án đầu tư và dự án hỗ trợ kỹ thuật.
Cụ thể: + Dự án đầu tư là dự án tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Căn cứ vào tính chất, dự án đầu tư bao gồm hai loại: (i) Dự án đầu tư có cấu phần xây dựng là dự án đầu tư xây dựng mới, mở rộng, nâng cấp hoặc cải tạo những công trình nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án; (ii) Dự án đầu tư không có cấu phần xây dựng là dự án đầu tư mua tài sản, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị, máy móc và dự án đầu tư khác không quy định tại điểm a khoản này. + Dự án hỗ trợ kỹ thuật là dự án với mục tiêu hỗ trợ công tác nghiên cứu chính sách, thể chế, chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao năng lực con người hoặc để chuẩn bị thực hiện chương trình, dự án khác thông qua các hoạt động như cung cấp chuyên gia trong nước và quốc tế, đào tạo, hỗ trợ một số trang thiết bị, tư liệu và tài liệu, tham quan khảo sát, hội thảo trong và ngoài nước. Dự án hỗ trợ kỹ thuật bao gồm dự án hỗ trợ kỹ thuật sử dụng vốn ODA viện trợ không hoàn lại và dự án hỗ trợ kỹ thuật sử dụng vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi.
Như vậy, dự án đầu tư sử dụng vốn ODA có thể hiểu là tập hợp các đề xuất của Chính phủ Việt Nam đối với các Nhà tài trợ nước ngoài liên quan đến việc bỏ vốn trung và dài hạn để ĐTXD mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình nhằm mục đích phát triển kinh tế, xã hội trong một hoặc nhiều giai đoạn phát triển của Việt Nam.