Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG HỌC CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 1 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài về chất lượng học tập * Quan điểm của các nhà tâm lý học ngoài Mácxít về chất lượng học tập Quan niệm trong thuyết liên tưởng Thuyết liên tưởng coi chất lượng học tập là kết quả của sự lĩnh hội kinh nghiệm xã hội mà thực chất của sự lĩnh hội này là hình thành các liên tưởng trong ý thức cá nhân. Cơ sở dạy học theo thuyết liên tưởng là hình thành các quy luật phản xạ có điều kiện.
Theo đó, trong suốt cuộc sống của con người liên tục diễn ra quy trình hình thành các phản xạ có điều kiện, đó là các liên tưởng. Các liên tưởng đã hình thành chính là vốn kinh nghiệm, tri thức của mỗi người. Tư tưởng chính của lý thuyết dạy học liên tưởng được thể hiện trên các khía cạnh sau: Một là, học tập là quá trình hình thành trong ý thức những liên tưởng được phản ánh trong các tri thức, kỹ xảo, kỹ năng và các phẩm chất nhân cách khác. Hai là, quá trình hình thành tri thức, kỹ xảo, kỹ năng được diễn ra theo một lôgíc nhất quán gồm các giai đoạn sau: Tri giác tài liệu; suy nghĩ, hiểu sâu, nắm chắc khái niệm; ghi nhớ khái niệm; vận dụng khái niệm vào trong hoạt động thực tiễn.
Ba là, giai đoạn chính của quá trình học tập là người học tự suy nghĩ, đào sâu khái niệm. Bốn là, chất lượng học tập phụ thuộc vào các điều kiện tâm lí - sư phạm: Người học phải có động cơ học tập tốt, có khả năng ghi nhớ, khả năng vận dụng tri thức đã có vào trong hoạt động thực tiễn của chính họ; người dạy phải truyền thụ tri thức cho người học theo một trật tự lôgíc. Thuyết liên tưởng có ưu điểm là đã phân loại được các liên tưởng hình thành trong ý thức, trong vốn hiểu biết, thấy được các mối liên quan giữa các liên tưởng. Song hạn chế của họ là chưa vạch ra được cơ chế, các giai đoạn hình thành các liên tưởng như thế nào, không đánh giá đúng mức vai trò của từng yếu tố trong sự hình thành các liên 7 tưởng.
Chất lượng học tập theo thuyết liên tưởng được hiểu rất hẹp, phụ thuộc chủ yếu vào động cơ, tâm thế, năng lực ghi nhớ, tái hiện và ý chí…của người học. Các yếu tố thuộc về người dạy, tài liệu, phương tiện dạy học và môi trường sư phạm chỉ được coi là thứ yếu. Vì vậy, thuyết này đã trở thành cơ sở lý luận cho phương pháp dạy học theo kiểu nhồi nhét, máy móc, thụ động, không coi dạy học là một hệ thống có kết cấu chặt chẽ gồm nhiều thành tố có mối quan hệ biện chứng với nhau và chất lượng học tập phụ thuộc vào tất cả các thành tố trong hệ thống đó. Quan niệm của trường phái Tâm lý học Gestalt Tiêu biểu cho trường phái này là: V.
Theo quan niệm của V.Kohler, dựa trên những kết quả nghiên cứu của mình về học tập từ năm 1913 đến 1917, ông cho rằng quá trình học tập diễn ra chủ yếu bên trong tâm hồn, sự vận động của các cấu trúc trí tuệ, động cơ tâm lý thuộc về chủ thể. Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có được là do kết quả của các cơ chế tâm lý đặc biệt (sự bừng hiểu, bừng sáng của mỗi cá nhân). Nghĩa là, chủ thể nhận thức thử các giả thuyết khác nhau, rồi đến một lúc nào đó chủ thê nhận thức đạt được trực giác về giải pháp và hành động theo trực giác ấy. Từ đó, ông đã ra kết luận “Học tập bằng trực giác sẽ mang lại chất lượng, hiệu quả hơn học từ chương theo phương pháp thử và sai bằng hành động của tâm lý học hành vi” [12, tr.
Nhìn chung, quan niệm của tâm lý học Gestalt về chất lượng, hiệu quả học tập đã tuyệt đối hoá các khả năng bẩm sinh, dựa vào sự may rủi, phủ nhận tính tích cực của cả người học và cả người dạy. Quan niệm của trường phái tâm lý học hành vi Các nhà tâm lý học hành vi cho rằng: Tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi của cơ thể ở con người.Watson quan niệm, hành vi được hiểu là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó. Toàn bộ hành vi, phản ứng của con người được thể hiện bằng công thức S → R. Từ quan niệm trên, tác giả cho rằng, bản chất của học tập được diễn ra theo cơ chế “thử và sai”.Watson coi học tập của con người cũng tích tụ kinh nghiệm cá thể như là kết quả của sự phản ứng máy móc của cơ thể nhằm đáp lại các kích thích bên ngoài, đồng nhất phản ứng bên ngoài với nội dung tâm lý bên trong của con người.
Từ đó, các nhà hành vi nêu ra ba quy luật học tập: Quy luật hiệu quả, nghĩa là học tập có 8 hiệu quả dương (tích cực) nếu chủ thể có được sự hài lòng và ngược lại; quy luật luyện tập, nghĩa là mối liên hệ S → R càng được luyện tập nhiều, càng được củng cố vững chắc; quy luật tính sẵn sàng, nghĩa là động cơ học càng mạnh thì sự học càng hiệu quả. Như vậy, về bản chất dạy học theo thuyết hành vi không cần phải quan tâm nhiều đến tính chủ thể, tính xã hội lịch sử của dạy học. Học tập của con người chỉ là những phản ứng đối với kích thích từ bên ngoài một cách máy móc, cơ học. Đây là một quan niệm tự nhiên chủ nghĩa, phi lịch sử về học tập của con người [12, tr.
Thuyết hành vi tạo tác của Skinner Bằng thực nghiệm thử và sai trên động vật, Skinner đã chứng minh rằng: hệ quả tích cực hay tiêu cực của học tập gắn liền với kỹ thuật “củng cố”. Nhờ “củng cố” có thể làm cho hành vi đó được lặp lại hay không, được kích thích hay bị ức chế. Do vậy, ông cho rằng hành vi tạo tác có thể xem như hành vi tự nguyện, tự giác. Từ đó, ông coi học tập là hình thành các hành vi tạo tác theo kiểu phản xạ có điều kiện do chính hệ quả của các hành vi đó làm kích thích.
Bản chất của học tập là hình thành các hành vi tạo tác trong môi trường sống của chủ thể. Như vậy, dạy học theo phương pháp của Skinner thực chất cũng là quá trình diễn ra máy móc, kỹ thuật tạo kích thích → phản ứng. Nhìn chung, thuyết hành vi đã có đóng góp lớn cho tâm lý học dạy học. Dù là thô sơ song thuyết hành vi đã xác định được cơ chế, cấu trúc của sự lĩnh hội; xác định rõ vai trò, chức năng của kích thích xem như đầu vào và phản ứng xem như đầu ra.
Tuy nhiên, khi đề cập đến hiệu quả học tập thuyết này đã không coi trọng đúng mức hoạt động tích cực, tự giác của con người, phủ nhận sự gia công trí tuệ của chủ thể nhận thức. Từ quan điểm của các nhà tâm lý học ngoài Mácxít về chất lượng học tập, có thể rút ra một số nhận xét sau: Ưu điểm: Các nhà tâm lý học ngoài Mácxít đã phần nào chỉ ra được những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng học tập, coi học tập như là một quá trình diễn ra có khởi đầu, diễn biến và kết thúc. Kết quả của học tập là chủ thể người học có được những kinh nghiệm mới, phẩm chất mới và phát triển. 9 Họ đã có nhiều tìm tòi, khám phá về cấu trúc, chức năng các thành phần của quá trình học tập.
Trong đó, phải kể đến các yếu tố động cơ, mục đích…; các yếu tố thuộc về nội dung, phương pháp, cách thức học, các cấp độ tham gia của tâm lý, ý thức vào điều khiển quá trình học. Hạn chế: Các lý thuyết trên đều xem xét học tập dưới dạng tự động, tuyệt đối hoá vai trò của môi trường, kích thích mà không thấy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của người học. Họ đã tuyệt đối hoá phương pháp dạy học máy móc, nhồi nhét. Khi thì tuyệt đối hoá yếu tố bên ngoài, hoặc tuyệt đối hoá người dạy, kĩ thuật dạy mà chưa đánh giá đúng sự tác động qua lại giữa các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng học tập.
Do vậy, khi ứng dụng vào trong tổ chức quá trình dạy học đã có nhiều hạn chế, không phát huy hết vai trò của các yếu tố tham gia quy định chất lượng học tập. * Quan niệm về chất lượng hoạt động học trong thuyết hoạt động Thuyết hoạt động khi nghiên cứu về học tập xuất phát từ quan điểm Mácxít về bản chất xã hội - lịch sử của quá trình dạy học, coi hoạt động học là quá trình tích cực của người học dưới sự tác động, chi phối của môi trường, hoàn cảnh, điều kiện lịch sử xã hội cụ thể. Tiêu biểu là các tác giả: L.Vưgôtxki cho rằng, chất lượng hoạt động học phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó sự tác động mạnh mẽ của môi trường xung quanh, đặc biệt là hoạt động dạy có vai trò đặc biệt quan trọng. Theo ông: “Dạy học giữ vai trò chủ đạo trong hình thành tâm lý, còn các hình thức khác của nó chỉ được biến đổi trong quá trình phát triển” [33, tr.
Tác giả còn chỉ rõ: Không phải bất kỳ sự dạy học nào cũng tạo ra sự phát triển, mà chỉ là sự dạy học vượt lên trước sự phát triển, dẫn dắt sự phát triển. Tư tưởng này có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập của người học.Rubinstein trong tác phẩm “Những cơ sở của tâm lý học đại cương” đã cho rằng: Quy luật cơ bản của sự phát triển tâm lý là do con người được trưởng thành và được phát triển chỉ cùng lúc với dạy học và giáo dục. Theo tác giả, hoạt động học tập chỉ 10 có thể thực hiện dưới sự chỉ đạo, dẫn dắt của người thầy. Trong hoạt động dạy, người thầy đã lĩnh hội các thành tựu văn hoá của loài người để truyền thụ cho người học, nhờ đó mà hoạt động học tập của người học được diễn ra một cách thuận lợi nhất.
Đồng thời tác giả cũng cho rằng, để nâng cao chất lượng hoạt động học đòi hỏi người học phải có hoạt động tương ứng như hoạt động nhận thức của các nhà khoa học.