Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 1. Đội ngũ giáo viên tiểu học 1. Giáo dục Tiểu học Giáo dục tiểu học (primary education, elementary education) là giai đoạn thứ nhất của giáo dục bắt buộc, có vị trí đặc biệt quan trọng; là cơ sở ban đầu và cũng là nhân tố quyết định sự phát triển nhân cách của học sinh. Đối tượng của GDTH là trẻ em trong độ tuổi 6 - 11 tuổi.
Trong hệ thống giáo dục của hầu hết các quốc gia trên thế giới, GDTH là cấp học khởi đầu, đặt nền móng vững chắc cho bậc GDPT và toàn bộ hệ thống giáo dục; thu nhận trẻ em vào học từ lớp 1 (5 hoặc 6 tuổi) đến hết lớp 5 hoặc lớp 6, tùy theo quốc gia. Đây là giai đoạn ban đầu góp phần hình thành nhân cách và năng lực (trí tuệ, thể chất) của trẻ sau này; đem lại cho học sinh giáo dục cơ bản, bắt đầu việc học có hệ thống về đọc, viết và tính toán. Vị trí Giáo dục Tiểu học Điều 2 Luật Phổ cập giáo dục tiểu học chỉ rõ: “Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện của nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [43]. Theo Luật giáo dục hiện hành: “Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm.
Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm” [47]. Trong hệ thống giáo dục Việt Nam, qua Khung cơ cấu giáo dục quốc dân (Xem Sơ đồ), có thể thấy được vị trí Tiểu học là cấp học đầu tiên của bậc Giáo dục Phổ thông (cấp Tiểu học, cấp Trung học cơ sở, cấp Trung học phổ 10 Luan van thông); GDTH là cầu nối và là nền tảng văn hóa của đất nước, cơ sở quan trọng cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam. Do đó, muốn quản lý và nâng cao hiệu quả giáo dục, trước tiên cần tập trung quản lý tốt và nâng cao chất lượng đội ngũ GVTH [50]. Sơ đồ: Khung cơ cấu giáo dục hệ thống quốc dân Nguồn: Quyết định 1981/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 18/10/2016 Phê duyệt khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Trên cơ sở đó, trường tiểu học là một trong những cơ sở giáo dục đầu tiên dạy trẻ em biết yêu gia đình, quê hương, đất nước; giúp học sinh hình thành những cơ sở cho sự phát triển đúng đắn về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản tạo điều kiện cho học sinh tiếp tục học lên các cấp học, bậc học tiếp theo để mai sau các em lập thân, lập nghiệp và sẽ trở thành công dân tốt phục vụ nhân dân và đất nước.
Đặc điểm và vai trò Giáo dục Tiểu học GDTH là cấp học bắt buộc và có tính phổ cập nên quy mô hệ thống trường lớp tiểu học sẽ là rộng nhất so với các cấp học, bậc học khác. Ở đâu có trẻ em thì ở đó có GDTH. Điều này đã tạo nên sự khác biệt trong lao động sư phạm của đội ngũ GVTH so với giáo viên các cấp học cao hơn. GDTH có vai trò quan trọng góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực cho phát triển KT-XH, nhân tố quyết định sự phát triển của học sinh trong những năm tháng đầu tiên đến trường phổ thông.
GDTH có sức ảnh hưởng rất sâu sắc trong việc thiết lập cơ sở ban đầu cho sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. Sản phẩm của GDTH có giá trị cơ bản, lâu dài đối với cuộc đời mỗi người trong xã hội; đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật [44], [47]. Điều 27 - Luật giáo dục cũng đã chỉ rõ mục tiêu của cấp học này: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”. Để thực hiện mục tiêu giáo dục của cấp học, nhà trường tiểu học có thể tiến hành bằng nhiều con đường khác nhau, trong đó dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục là con đường cơ bản và quan trọng nhất.
Giáo viên, đội ngũ giáo viên tiểu học 1. Khái niệm, đặc điểm giáo viên tiểu học - Điều 66, Khoản 1, Luật Giáo dục năm 2019 quy định: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên gọi là giảng viên”. 12 Luan van Nhà giáo - giáo viên là tên gọi vừa bao hàm nội dung nghề nghiệp vừa mang ý nghĩa tôn vinh, trân trọng. Lực lượng giáo viên là nguồn nhân lực chủ yếu của ngành giáo dục, có vị trí đặc biệt trong sự nghiệp “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước.
Giáo viên cũng là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường, thể hiện chủ yếu ở chất lượng của sản phẩm giáo dục. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã chỉ rõ “giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh. Giáo viên phải có đủ đức, tài. Nhiệm vụ của giáo viên được xác định trên hai phương diện: nhiệm vụ của viên chức nói chung (theo quy định tại Điều 17 Luật Viên chức năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2019) và nhiệm vụ của nhà giáo theo quy định tại Điều 69 Luật Giáo dục năm 2019.
Với tư cách là nhà giáo, muốn dạy học và giáo dục có hiệu quả, người giáo viên phải có phẩm chất và năng lực theo yêu cầu của ngành. Tiêu chuẩn chung đối với nhà giáo được quy định trong Điều 67, mục 1, chương IV, Luật Giáo dục 2019: Có phẩm chất, tư tưởng, đạo đức tốt; đáp ứng chuẩn nghề nghiệp theo vị trí việc làm; có kỹ năng cập nhật, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; bảo đảm sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp [47]. - Đặc điểm giáo viên tiểu học: Giáo viên là một trong những loại hình viên chức trong các cơ sở sự nghiệp công lập (theo Luật Viên chức hiện hành). Luật Viên chức cũng đã làm rõ khái niệm viên chức, phân biệt với cán bộ và công chức; xác định các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức; các nguyên tắc quản lý viên chức phù hợp với thể chế chính trị của Việt Nam và tính chất, đặc điểm lao động của viên chức; “chức danh nghề nghiệp” của viên chức để phân biệt với “ngạch” của cán bộ, công chức.
13 Luan van Như vậy GVTH có đầy đủ đặc điểm của viên chức. Với khái niệm “Viên chức” đã được quy định trong luật viên chức, có thể hiểu viên chức giáo dục tiểu học (Bao gồm giáo viên, cán bộ quản lý trường, viên chức hành chính): Là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập cụ thể là các trường tiểu học theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của trường tiểu học theo quy định của pháp luật. So với các giáo viên cấp học khác trong GDPT thì lao động sư phạm của GVTH có những đặc điểm riêng: GVTH hầu như phải dạy tất cả các môn học (trừ môn Âm nhạc, Thể dục, Ngoại ngữ…), dạy nhiều giờ ở cùng một lớp, đồng thời đảm nhiệm phần lớn các hoạt động giáo dục; có thể được phân công phụ trách theo lớp (Lớp 1 đến lớp 5) với nhiều độ tuổi học sinh. Thời gian làm việc phần lớn dành cho học sinh.
Mặt khác, GVTH không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy bằng chính con người và nhân cách của mình. Bởi vậy, GVTH tác động rất lớn và có dấu ấn sâu sắc về nhiều mặt đối với học sinh từ thuở ấu thơ. Trong hoạt động sư phạm của GVTH, bên cạnh lòng yêu nghề, cần phải mến trẻ, chăm lo và thấu hiểu học sinh với các đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi. Ngoài ra, khả năng sáng tạo trong tổ chức các hoạt động giáo dục, quan tâm gần gũi, hết lòng vì học sinh cũng là các yêu cầu rất cần thiết, đòi hỏi người giáo viên phải rất cố gắng mới có thể làm tốt nhiệm vụ của mình.
Đội ngũ giáo viên tiểu học - Có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ “đội ngũ”. Khái niệm đội ngũ được dùng khá phổ biến cho các tổ chức trong xã hội như: Đội ngũ bác sĩ, đội ngũ công an, đội ngũ thanh niên, đội ngũ giáo viên… 14 Luan van Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học: “Đội ngũ là tập hợp một số đông người, cùng chức năng nghề nghiệp thành một lực lượng” [64, tr. Từ điển Giáo dục học định nghĩa: “Đội ngũ giáo viên là tập hợp những người đảm nhận công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định” [33]. Từ các định nghĩa trên, có thể quan niệm đội ngũ GVTH như sau: “Đội ngũ giáo viên tiểu học là tập hợp những người thực hiện hoạt động dạy học - giáo dục trong các nhà trường, các cơ sở giáo dục ở cấp tiểu học; có đầy đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ theo quy định”.
Chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học 1. Chất lượng, chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học 1. Chất lượng “Chất lượng” là một khái niệm khá quen thuộc nhưng cũng là một phạm trù tương đối phức tạp, có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng. Theo Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa, trong tiêu chuẩn ISO 8402:2000 “Chất lượng là toàn bộ các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn các nhu cầu đã được công bố hay còn tiềm ẩn”.
Ở Việt Nam, Theo Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2010: Chất lượng (danh từ) là: “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”. Một định nghĩa khác “Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” [36].