CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE GIAO DUC THE CHAT VA QUAN LY HOAT ĐỘNG GIÁO DỤC THẺ CHÁT Ở TIỂU HỌC 1. Khái lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Một số nghiên cứu nước ngoài Trong lịch sử các tư tưởng giáo dục, Platon (424/423 - 348/347 TCN) một nhà triết học, nhà giáo dục Hy Lạp, là người đầu tiên hình thành ý tưởng về một học thuyết giáo đục đầy đủ, vấn đề ông đưa ra về giáo dục là coi trọng sức khoẻ và vẻ đẹp; giáo dục theo lứa tuổi. đều là những vẫn đề mà ngày nay nền giáo dục hiện đại đã và đang vận dụng dưới những nội dung, hình thức phù hợp.
Theo ông: “Nổn giáo đực có hai phan, thể dục cho thân thể và âm nhạc cho tâm hỗn”. Ông xem giai đoạn đầu tiên của giáo dục là rèn luyện tính cách con người sao cho họ trở thành những con người cân đối, hài hoà qua đó hình thành cơ sở để bước vào giai đoạn hai của quá trình giáo dục tiếp cận những môn học tri thức trừu tượng [24, tr. Từ thế kỷ XIV, vấn đề dạy học và quản lý hoạt động dạy học đã được nhiều nhà giáo dục nước ngoài nghiên cứu và công bố nhiều công trình có giá trị: Về vấn đề quản lý hoạt động dạy học: Các nhà giáo đục Xô Viết như V.đã công bố nhiều tác phẩm nỗi tiếng về công tác quản lý trường học.A Xu khomlinxki rất coi trọng dự giờ - phân tích giờ dạy, bồi dưỡng đội ngũ để GV nâng cao trình độ.Pxtrezicondin đi sâu phân tích công tác kế hoạch hoá trong quá trình quản lý, bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho GV, công tác kiểm tra quá trình dạy học được ông nhấn mạnh và cụ thể hóa. Zakharôp rất quan tâm thu thập, phân tích những số liệu, chỉ số phản ánh tình hình giảng dạy, học tập, việc phối hợp trong Ban giám hiệu nhằm giúp đỡ GV tiến bộ về phương pháp dạy học [25, tr.
Về vấn đề dạy học theo hướng phát triển năng lực: Trong tác phâm “Lý luận dạy học trong nhà trường phô thông trung học” năm 1982 của tác giả M.Okon đã nêu một số nét đặc trưng của của hoạt động sáng tạo phát triển năng lực. Khả năng tư duy độc lập, chuyển kiến thức vào các tình huống mới để vận dụng giải quyết; xây dựng được cách giải quyết mới khác với cách giải đã biết và không phải là tổ hợp các cách giải đã biết [22, tr. Trong tác phâm “Khoa học sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường”, Xavier Roegiers cho rằng: Ngoài khía cạnh kiến thức đơn thuần, nhà trường trước hết phải tập trung cố gắng dạy cho HS sử dụng kiến thức của mình vào các tình huống có ý nghĩa đối với HS, hay nói cách khác nhà trường cần phát triển những năng lực ở học sinh [34]. 7 Các vấn đề phát triển năng lực người học gắn với các hoạt động trải nghiêm thực tiễn được nhiều quốc gia quan tâm và đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu.
Điển hình như tiến sĩ Giáo dục học Raija (người Ấn Ðộ) trong cuốn: “Nền giáo dục cho thế kỷ XXL, những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương” đã khẳng định trong tổ chức dạy học phải xác định những giá trị và kỹ năng mong muốn mà mục đích của quá trình truyền đạt tri thức cần phát triển. HS phải rèn cho HS năng lực phán đoán, suy luận, giải quyết vấn đề, kỹ năng hợp tác làm việc, làm việc trong một tổ chức, có sáng kiến. Các tác phẩm của các tác giả nước ngoài cho thấy vấn đề dạy học và quản lý hoạt động dạy học được nghiên cứu một cách hệ thống, cơ sở lý luận đó được đúc kết từ thực tiễn quản lý, phát triển theo từng giai đoạn lịch sử, khẳng định giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong phát triển nhân cách con người và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Kết quả giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào công tác quản lý hoạt động dạy học nhân tố người thầy và tính tích cực, chủ động của học trò.
Một số nghiên cứu trong nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công. Mỗi một người dân yếu ót, tức là làm cho cả nước yếu ót một phân; mỗi một người dân khỏe mạnh, tức là góp phẩn cho cả nước mạnh khỏe. Vậy nên huyện tập thể dục, bỗi bồ sức khỏe, tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe” [ L9]. Về phạm trù GDTC trong nhà trường: trong cuỗn Tuyên tập nghiên cứu khoa học giáo duc thé chat, y tế trường học (Bộ GD&ĐÐT, NXB TDTT năm 2006), đã công bố công trình nghiên cứu của các tác giả trong lĩnh vực GDTC và y tế trường học.
Trong số các nghiên cứu này có thể kể đến công trình của Ngũ Duy Anh và Vũ Đức Thu trong đề tài “Định hướng chiến lược tăng cường GDTC, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ học sinh trong nhà trường phổ thông các cấp đến năm 2010”. Trong đề tài này, các tác giả đã đưa ra mục tiêu định hướng lâu dài, mục tiêu trước mắt 2003 - 2010 và đồng thời đưa ra các giải pháp chiến lược nhằm thực hiện đề đạt được mục tiêu đề ra. Các tác giả đã nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao công tác GDTC trường học, đánh giá thực trang về các hoạt động GDTC đồng thời vạch ra những khó khăn và đề ra mục tiêu, giải pháp để khắc phục những hạn chế còn tồn tại. Phạm vi nghiên cứu đề tài này thực hiện trên các địa phương cả nước do đó nó thể hiện được bức tranh tổng thể công tác giáo dục thể chất [13].
Ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu mới được hướng dẫn bởi các giảng viên ở các trường đại học danh tiếng về khoa học Quản lý, Quản lý giáo duc; Quản lý hoạt động GDTC, được đăng trên các tạp chí giáo dục uy tín như bài viết của tác giả Hồ Minh Được: “Một số vấn đề lý luận quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho 8 học sinh tại trường tiểu học” tác giả nghiên cứu các hoạt động giáo duc thé chat trong trường tiểu học, từ đó phân tích công tác quản lý các hoạt động đó để đảm bảo chất lượng, hiệu quả từ đó giúp học sinh được phát triển toàn diện, nâng cao thể trạng đúng với lứa tuôi tiêu học [15]. Hay bài nghiên cứu của Nguyễn Van Thanh — Lê Viết Vinh về “Năng lực sư phạm cân có của giáo viên môn GDTC trong trường phổ thông hiện nay”. Nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ, nhân tố quyết định đến chất lượng GDTC trong nhà trường. Để đảm bảo được mục tiêu GDTC ở trong nhà trường phố thông ngoài vấn đề về trình độ chuyên môn vững vàng, phâm chất nghề nghiệp và năng lực sư phạm cần thiết; còn phải là người có năng lực đóng nhiều vai diễn để góp phần giáo dục học sinh phát triển toàn diện [31].
Tác giả Trần Đình Thuận với bài nghiên cứu về “Đánh giá hiệu quả vận dụng chương trình vận động Hexathlon — Mizino (Nhật Bản) trong thực tiễn giáo dục thể chất cấp tiểu học Việt Nam” nhằm phat triển thé chất cho học sinh tiểu học đã được nghiên cứu và thử nghiệm thành công triển khai rộng khắp các trường tiểu học của Nhật Bản và thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Bài viết giới thiệu những ưu thế của chương trình và đề xuất những kiến nghị để có thể vận dụng phù hợp, khả thi vào chương trình GDTC mới ở cấp tiểu học [32]. Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên của các tác giả trong nước đều khái quát hoá được khái niệm và phân tích được bản chất của hoạt động GDTC trong nhà trường, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình dạy học một cách biện chứng, khoa học; đánh giá chỉ tiết thực trạng hoạt động GDTC và quản lý hoạt động GDTC ở nhiều các cấp học; đề xuất được các biện pháp cụ thể trong quản lý hoạt động GDTC phù hợp với đặc thù và điều kiện của cấp tiểu học nói riêng. Do đó các công trình trên thực sự có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tiễn đề tác giả kế thừa và tiếp tục triển khai nghiên cứu vấn đề về quản lý hoạt động GDTC ở tiểu học tại địa bàn thành phố Quảng Ngãi.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Quản lý là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch hành động (bao gồm cả xác định mục tiêu cụ thé, chế định kế hoạch, quy định tiêu chuẩn đánh giá và thể chế hóa), sắp xếp tổ chức (bé trí tổ chức, phối hợp nhân sự, phân công công việc, điều phối nguồn lực tài chính và kĩ thuật.), chỉ đạo, điều hành, kiểm soát và đánh giá kết quả, sửa chữa sai sót (nếu có) để bảo đảm hoàn thành mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Về thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng có chung các nội hàm chủ yêu sau: 9 - Quan ly luôn luôn gắn liền với một tổ chức (hệ thống), trong đó chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý nhằm đưa tổ chức đạt mục tiêu. - Khách thể quản lý (có thể là một nhóm người hay một người bị quản lý) tiếp nhận trực tiếp hoặc gián tiếp các tác động của chủ thể quản lý.
- Phải có mục tiêu quản lý và mục tiêu hoạt động của tổ chức mà người quản lý và mọi người bị quản lý hướng tới. - Phải có phương tiện thực hiện mục tiêu (luật pháp, chính sách và cơ chế; bộ máy tổ chức và nhân sự; cơ sở vật chất; môi trường và thông tin cần thiết,. - Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, hệ thống (tỗ chức); có thể là một con người, sự vật cụ thể, một hoạt động,. Tóm lại: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (người bị quản lý và các yếu tố chịu ảnh hưởng tác động của chủ thể quản lý) về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,.
bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm làm cho tô chức vận hành đạt tới mục tiêu quan ly [30, tr.