Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về năng lực, điển hình là công trình khoa học “Hình thành các năng lực sư phạm” của Kuzmina N.V, tác giả đã ch ra các năng lực sư phạm cần có của một người giáo viên, mối quan hệ giữa năng lực chuyên môn và năng lực nghiệp vụ, giữa năng khiếu sư phạm và việc bồi dưỡng năng khiếu sư phạm thành năng lực sư phạm. Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã trình bày r ràng các giai đoạn cần tiến hành để bồi dưỡng năng lực sư phạm cho SV trong quá trình đào tạo ở trường sư phạm.
Đối với nước Đức, chuẩn đầu ra đối với sinh viên sư phạm tốt nghiệp của Đức bao gồm 4 lĩnh vực với 11 năng lực: Năng lực dạy học - GV là các chuyên gia về dạy và học; Năng lực giáo dục - GV thực thi nhiệm vụ giáo dục của mình; Năng lực đánh giá - GV thực thi nhiệm vụ đánh giá của mình một cách công bằng và có trách nhiệm; Năng lực đổi mới - GV liên tục phát triển tiếp tục các năng lực của mình [5]. Ernesto Cuadra và Juan Manuel Moreno cùng cộng sự (World Bank, 2011) đề xuất bộ năng lực GV, gồm ba nhóm năng lực với 12 năng lực cơ bản: lĩnh vực nghề nghiệp gồm: (1) Phân tích và lí giải kiến thức, văn hóa trong khi thực thi nhiệm vụ, (2) Thực hiện các dự án cá nhân, tập thể về phát triển nghề nghiệp, (3) Rèn luyện tu dưỡng các phẩm chất nghề nghiệp, lĩnh vực dạy học (4) Thiết kế các tình huống trong dạy học, (5) Triển khai các tình huống dạy học nhằm phát triển năng lực cho HS theo yêu cầu chương trình giáo dục, (6) Đánh giá sự tiến bộ của HS theo định hướng hình thành năng lực theo yêu cầu, (7) Lập kế hoạch dạy học và giáo dục HS, (8) Xử lý tình huống đa dạng, (9) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Tích hợp ICT trong dạy học và giáo dục, (10) Thuyết trình vấn đề liên quan trong dạy học giáo dục, lĩnh vực trường học (11) Phối hợp, hợp tác các lực lượng giáo dục để hoàn thành mục tiêu giáo dục của nhà trường, (12) Hợp tác phối hợp với đồng nghiệp trong phát triển và đánh giá các năng lực quy định trong chương trình và chú ý nhu cầu của HS. Theo ý kiến của các tác giả thì 12 năng lực cơ bản phải có mặt trong bất kỳ chương trình đào tạo GV nào, với mức độ yêu cầu khác nhau, tùy theo đó là chương trình đào tạo ban đầu, tập sự hoặc phát triển nghề nghiệp liên tục [19]. Các nghiên cứu ở Việt Nam Các nghiên cứu về giáo dục thể chất Luận án tiến sĩ của tác giả Trịnh Ngọc Trung về Nghiên cứu nội dung môn GDTC cho sinh viên trường Đại học Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh Hoá đã chú trọng nghiên cứu tới nhu cầu, thái độ, động cơ tập và các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả công tác Giáo dục thể chất của sinh viên trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa, từ đó tác giả tiến hành thực nghiệm và đánh giá hiệu quả nội dung môn Giáo dục thể chất đã lựa chọn [21].
Tuy nhiên, tác giả chưa nêu được các hình thức, phương pháp GDTC cho sinh viên để thực hiện hiệu quả nội dung môn Giáo dục thể chất đã lựa chọn. Đặng Ngọc Quang trong bài viết Nghiên cứu một số môn thể thao tự chọn trong chương trình giáo dục thể chất cho HS trường trung học phổ thông Mỹ Đức A, thành phố Hà Nội đã đánh giá kết quả lựa chọn môn thể thao tự chọn của học sinh và đi đến kết luận các môn học được đông đảo HS ưa thích luyện tập và lựa chọn tham gia tập luyện tập trung vào là Bóng rổ, Bóng chuyền và Bóng đá; các môn Bóng bàn, Cầu lông và Bóng ném ít được ưa thích và quan tâm hơn. Trong bài viết này tác giả đánh giá qua thực tiễn giảng dạy, công tác GDTC chưa đạt hiệu quả tốt do những nguyên nhân như: tổ chức hoạt động giờ học chính khóa theo chương trình còn bất cập; số lượng học sinh trong một lớp học còn đông; hoạt động ngoại khóa không thường xuyên, số lượng HS tham gia ít.; đặc biệt là môn thể thao tự chọn chưa được quan tâm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c đúng mức, nội dung và hình thức hoạt động chưa phù hợp với sở thích của HS và điều kiện của nhà trường [17]. Tuy nhiên, tác giả chưa nêu được các hình thức, phương pháp GDTC cho HS.
Nguyễn Thị Phương Thảo trong bài viết Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các học phần giáo dục thể chất tại trường Đại học Công đoàn, từ kết quả khảo sát thực trạng tác giả nhận định mức độ hài lòng của sinh viên về chương trình GDTC nhà trường trong thời gian qua chưa thực sự cao, vẫn còn sinh viên chưa hài lòng, do đó đòi hỏi cần có sự nghiên cứu cải tiến chương trình phù hợp với nhu cầu và sở thích của sinh viên. Sinh viên chưa thật sự tích cực rèn luyện thân thể, kết quả cho thấy vẫn còn số lượng rất đông SV thỉnh thoảng mới tập luyện chiếm 47,5% và có 18% sinh viên không tự tập luyện thêm mặc dù học chế theo tín chỉ đòi hỏi khả năng tự học của sinh viên rất cao. Tác giả đề xuất các biện pháp như: Thực hiện tuyên truyền, giáo dục về vai trò và ý nghĩa của Giáo dục thể chất; Cải tiến nội dung của chương trình đào tạo phù hợp với thực tiễn của nhà trường; Tăng cường các hoạt động thể dục thể thao ngoài giờ học; Đầu tư trang bị, bổ sung, nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ [18]. Vũ Minh Cường trong bài viết Một số biện pháp chuyên môn nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho HS trung học sơ sở từ kết quả ứng dụng các biện pháp chuyên môn đã lựa chọn vào các trường trung học cơ sở đã đi đến kết luận sau 12 tháng thực nghiệm các biện pháp chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng GDTC thuộc 3 khối lớp (6, 7, 8) ở một số trường THCS trên địa bàn Hà Nội, kết quả cho thấy: công tác GDTC nhà trường đã có sự chuyển biến rất tích cực về chất lượng và nhận thức của HS về hoạt động thể thao được tăng lên.
Kết quả kiểm tra thể lực HS đã khẳng định hiệu quả của các biện pháp trong hoạt động GDTC của nhà trường. Kết quả rèn luyện thể chất của HS so với tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộ GD-ĐT đều đạt ở tất cả các chỉ tiêu, tỉ lệ 86,7% HS có trình độ thể lực xếp loại tốt chiếm đa số [6]. Tuy nhiên, tác giả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c chưa đề cập đến đổi mới phương pháp, hình thức GDTC cho HS để thực hiện hiệu quả nội dung môn Giáo dục thể chất đã lựa chọn. Các nghiên cứu về quản lý giáo dục thể chất theo hướng tiếp cận năng lực Võ Ngọc Giao (2006) trong công trình Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn giáo dục thể chất ở trường đại học khoa học xã hội và nhân văn đã đề xuất các biện pháp quản lý như: Xây dựng chương trình thể chất mới theo hướng tự chọn của sinh viên; Tăng cường quản lý hoạt động dạy học; Đổi mới phương pháp dạy học và tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho môn giáo dục thể chất [7].
Nguyễn Đức Hậu (2018) trong công trình Quản lý hoạt động giáo dục thể chất cho HS theo tiếp cận năng lực ở các trường trung học phổ thông tỉnh Phú Thọ đã đưa ra các biện pháp sau: Nâng cao nhận thức cho giáo viên, cán bộ quản lý về tổ chức hoạt động GDTC cho học sinh theo tiếp cận năng lực; Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy môn thể dục về kỹ năng tổ chức các hoạt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c động ngoại khóa, kỹ năng tổ chức giờ dạy thể dục theo tiếp cận năng lực học sinh; Đổi mới sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn trong xây dựng và tổ chức kế hoạch giảng dạy môn Thể dục theo tiếp cận năng lực cho học sinh; Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục thể chất cho học sinh theo tiếp cận năng lực ở trường trung học phổ thông; Hoàn thiện các điều kiện phục vụ tổ chức hoạt động giáo dục thể chất theo tiếp cận năng lực cho học sinh [10]. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, Quản lí giáo dục - Quản lý: Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [13] hay “Quản lý là quá trình tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” [13]. Từ những quan điểm nêu trên, theo chúng tôi: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Từ các khái niệm trên, theo chúng tôi, quản lý là một quá trình tác động có chủ định của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý thông qua thực hiện các chức năng quản lý để đưa tổ chức đạt được mục tiêu đã đề ra. - Quản lý giáo dục: Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành tiến tới mục tiêu đào tạo theo nguyên lý giáo dục” [2]. Phạm Minh Hạc cho rằng “Quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [8]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.