MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. TDTT trường học, bao gồm GDTC và HĐTT, là một bộ phận quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu, là vốn quý của mọi gia đình; là mục tiêu của mỗi quốc gia trong đào tạo nguồn nhân lực để xây dựng và phát triển đất nước.
Vì vậy, chăm lo thể chất cho HS là trách nhiệm của toàn xã hội, các cấp, các ngành, đặc biệt là ngành GD&ĐT. Trong Chỉ thị 133/TTg, Thủ tướng đã yêu cầu: "Bộ GD&ĐT cần đặc biệt coi trọng việc GDTC trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khoá, ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho HS ở các cấp học" [108, tr. Trong Chỉ thị số 17-CT/TW về phát triển TDTT đến năm 2010, Ban chấp hành Trung ương Đảng cũng chỉ đạo: "Đẩy mạnh hoạt động TDTT trong trường học. Tiến tới bảo đảm mỗi trường đều có GV chuyên trách và lớp học TD đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng GDTC " [2, tr.
Từ các chủ trương, chính sách đã được thực hiện cho thấy Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến TDTT trường học, coi đây là nhiệm vụ quan trọng góp phần tạo ra con người mới, đóng góp tích cực trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên trong thực tế, công tác TDTT trường học chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì, nâng cao sức khỏe người học; các trường học thiếu nhiều sân bãi, phòng tập, dụng cụ phục vụ nhu cầu tập luyện, thi đấu và vui chơi của HSSV; đội ngũ giáo viên TD thiếu và yếu; nội dung chương trình TD chính khóa và HĐTT ngoại khóa nghèo nàn, xơ cứng, không thu hút HS tham gia học tập và rèn luyện [92]. Nằm ở trung điểm của đất nước, thành phố Đà Nẵng là trung tâm văn hoá, KHCN và giáo dục, là địa bàn chiến lược của miền Trung – Tây nguyên. Đà Nẵng còn là địa phương có phong trào TDTT phát triển khá mạnh mẽ, trong đó TDTT trường học được các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể và xã hội quan tâm.
Với hơn 170 trường phổ thông, trong đó có 20 trường THPT, công tác TDTT 3 trường học ở Đà Nẵng được duy trì khá tốt; có nhiều thành tích trong các giải thể thao học đường và HKPĐ toàn quốc. Hoạt động học tập, rèn luyện và thi đấu thể thao đã trở thành nhu cầu của một bộ phận HSSV. Tuy vậy, TDTT trường học ở Đà Nẵng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Nhận thức về công tác GDTC và HĐTT trong nhà trường của một bộ phận cán bộ quản lý, và các nhà GD chưa đầy đủ; nhiều HS và gia đình chưa đánh giá đúng mức vai trò, vị trí môn TD trong trường học nên vẫn có quan điểm xem môn TD là môn học phụ.
Việc đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị TDTT trong nhà trường, bồi dưỡng phát triển đội ngũ GV TD còn nhiều bất cập. Hoạt động TDTT trong nhà trường chưa gắn liền với phong trào TDTT quần chúng nên chưa huy động được các nguồn lực của xã hội cũng làm giảm hiệu quả công tác TDTT trường học. Thực tiễn đó đòi hỏi cần thiết có những nghiên cứu đầy đủ hiện trạng công tác TDTT trường học ở Đà Nẵng một cách khoa học, làm rõ các yếu tố tác động đến hiệu quả GDTC và HĐTT trong nhà trường để tìm kiếm các giải pháp nâng cao chất lượng TDTT trường học phù hợp với tình hình, đặc điểm riêng của Đà Nẵng, giúp các nhà quản lý GD và GV TD có những luận cứ khoa học, những giải pháp ứng dụng phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động TDTT trường học. Trong những năm qua, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến TDTT trường học.
Các công trình thường đề cập các vấn đề lý luận chung hoặc từng lĩnh vực khác nhau như: hình thái và thể chất HSSV, các tiêu chuẩn – tiêu chí về rèn luyện thân thể, phương pháp giảng dạy, huấn luyện, hoạt động CLB TDTT trường học. Những nghiên cứu liên quan ở bậc học phổ thông, có thể kể đến các luận án của Hoàng Công Dân (2005) “Nghiên cứu phát triển thể chất cho HS các trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực phía Bắc từ 15-17 tuổi” (2008) , (2011). Phần lớn các đề tài thường nghiên cứu ở đối tượng HS tiểu học và THCS, hầu như chưa có công trình đi sâu, đánh giá toàn diện thực trạng cũng như nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong trường THPT ở phạm vi một tỉnh, 4 thành phố. Đặc biệt ở các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây nguyên hầu như chưa có công trình khoa học nào đề cập đến vấn đề này.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu luận án với tên đề tài “Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường trung học phổ thông ở Đà Nẵng”. Mục đích nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở đánh giá thực trạng GDTC và HĐTT của các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, phân tích các cơ sở lý luận, thực tiễn, các yếu tố tác động để lựa chọn giải pháp phù hợp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng. Mục tiêu nghiên cứu.
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án xác định các mục tiêu sau: 3. Các yếu tố đảm bảo hiệu quả GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng. Đánh giá thực trạng GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng. Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng.
Giả thiết khoa học. Nếu đổi mới nội dung chương trình môn học TD theo chủ đề tự chọn đáp ứng nhu cầu người học và tổ chức mô hình CLB TDTT trường học phù hợp với thực tiễn địa phương, sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong nhà trường. Kết quả nghiên cứu của luận án mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, có thể ứng dụng trên địa bàn Đà Nẵng, đồng thời góp phần bổ sung vào Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015 đối với môn học TD theo tinh thần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH mà Nghị quyết Đại hội Đảng (khóa XI) đã xác định cho ngành GD&ĐT nước nhà. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Quan điểm, đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc về TDTT trƣờng học trong thời kỳ mới. Quan điểm, đường lối của Đảng về TDTT trường học. Đảng lãnh đạo công tác TDTT nói chung và công tác TDTT trường học nói riêng bằng việc hoạch định chủ trương, đường lối, quan điểm chỉ đạo và được thể hiện cụ thể qua các thời kỳ cách mạng. Quan điểm chủ đạo xuyên suốt của Đảng là: xã hội chủ nghĩa " [108, tr.
Bước vào thế kỷ 21, thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 17/CT-TW (23/10/2002) về phát triển TDTT đến năm 2010, giao cho ngành TDTT và ngành GD&ĐT đẩy mạnh hoạt động TDTT trường học [3]. Chỉ thị 17/CT-TW đã ghi dấu cho sự phát triển mới của nền TDTT Việt Nam, nhiều nội dung của Chỉ thị đi vào cuộc sống, có tác động rất lớn đối với sự nghiệp phát triển TDTT nước nhà nói chung và công tác TDTT trường học nói riêng trong những năm đầu thế kỷ XXI, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội. Một trong những mục tiêu và phương hướng tổng quát của giai đoạn 2006- 2010 được Đại hội Đảng (khóa X) xác định là: “GD&ĐT cùng với KHCN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đề cập đến vấn đề sức khỏe của nhân dân, Đại hội khẳng định cần phải: “Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi.
Tăng cường thể lực của thanh niên” [4, tr. Báo cáo chính trị tại Đại hội XI khẳng định phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Vì vậy, Đại hội yêu cầu phải “Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học” [5, tr. 41] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh “GD&ĐT có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước.
Theo đó, cần phải “Đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT theo 6 nhu cầu phát triển của xã hội, nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”[5, tr. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020; trong phần đánh giá những tồn tại, hạn chế đã chỉ rõ: “GDTC và HĐTT trong HSSV chưa thường xuyên và kém hiệu quả”[6, tr. Nghị quyết đã đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng GDTC và HĐTT trường học, một trong những giải pháp quan trọng là đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với GD ý chí, đạo đức, quốc phòng, sức khỏe và kỹ năng sống của HSSV. Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ GV TD, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV TD cho trường học…[6].
Nghị quyết 29/NQ-TƯ (khóa XI) “về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT; đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã đề ra quan điểm chỉ đạo: “Chuyển mạnh quá trình GD từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” và “Đổi mới hệ thống GD theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và phương thức đào tạo” [8, tr.