phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý kinh tế cấp huyện. Chƣơng 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý kinh tế ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý kinh tế ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ KINH TẾ CẤP HUYỆN 1.
Khái niệm, vai trò và đặc điểm đội ngũ cán bộ, công chức quản lý kinh tế cấp huyện 1. Khái niệm, phân loại cán bộ, công chức quản lý kinh tế cấp huyện 1. Khái niệm cán bộ, công chức quản lý kinh tế cấp huyện Trên thế giới, công chức là một thuật ngữ sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia, dùng để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước hay cơ quan công quyền. Do tính chất đặc thù của từng quốc gia, khái niệm công chức không hoàn toàn đồng nhất.
Có quốc gia chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người tham gia các hoạt động QLNN. Trong khi ở quốc gia khác lại quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ là những người tham gia trực tiếp các hoạt động QLNN mà còn gồm những người làm việc mang tính chất dịch vụ công. Ở Việt Nam, phạm trù cán bộ, công chức, viên chức hình thành, phát triển gắn với nền hành chính nhà nước, sử dụng khá phổ biến để vận hành nền hành chính quốc gia. Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, tại khoản 1, Điều 4 thì “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [18].
Theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019 thì “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển 8 dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [19]. Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính của Học viện Hành chính Quốc gia (2009) định nghĩa công chức là: “Người được tuyển dụng và bổ nhiệm vào làm việc trong một cơ quan của Nhà nước ở trung ương hay ở địa phương, làm việc thường xuyên, toàn bộ thời gian, được xếp vào ngạch của hệ thống ngạch bậc, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, có tư cách pháp lý khi thi hành công vụ của Nhà nước”. Định nghĩa này thể hiện điều kiện để trở thành công chức: 1) Được tuyển dụng và bổ nhiệm để làm việc thường xuyên. 2) Làm việc trong công sở.
3) Được xếp vào một ngạch của hệ thống ngạch bậc, hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 4) Có tư cách pháp lý khi thi hành công vụ [10]. Trong Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu Đề tài khoa học cấp bộ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế ở nước ta trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế” do GS. Đào Xuân Sâm chủ nhiệm đã định nghĩa đội ngũ cán bộ nhà nước “là người được tuyển dụng và bổ nhiệm vào bộ máy nhà nước, giữ một công vụ với một chức danh nhất định.
Họ là những người hoạt động trong các lĩnh vực nhất định thuộc bộ máy nhà nước các cấp như hành chính, kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật… Họ được xếp vào một ngạch bậc công chức nhà nước. Họ hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo ngạch bậc chức danh” [8]. QLNN về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực 9 kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập quốc tế. Theo nghĩa rộng, QLNN về kinh tế được thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước.
Theo nghĩa hẹp, QLNN về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp. Cấp huyện ở Việt Nam hiện nay được quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 bao gồm: huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương [20]. Trên cơ sở phân tích những quan niệm khác nhau về cán bộ, công chức, cán bộ quản lý, luận văn đưa ra khái niệm về CBCC QLKT cấp huyện như sau: CBCC QLKT cấp huyện là những người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng, bổ nhiệm ngạch, chức danh trong cơ quan nhà nước thuộc cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương) do ngân sách Nhà nước trả lương, thực hiện chức năng, nhiệm vụ QLNN trên các hoạt động kinh tế trên địa bàn của huyện. Trong giới hạn nghiên cứu của luận văn, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC QLKT ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Bao gồm: - Những cán bộ được bầu: Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, trưởng, phó các ban của HĐND huyện; Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND huyện. - CBCC làm việc trong các đơn vị thực hiện chức năng QLNN về kinh tế gồm: Văn phòng HĐND và UBND, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Kinh tế - Hạ Tầng, Phòng Nội vụ, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Tài nguyên - Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tư pháp, Thanh tra huyện. Phân loại cán bộ, công chức quản lý kinh tế ở cấp huyện Theo quy định, để phục vụ cho việc nghiên cứu cũng như QLNN đối với CBCC ở các cơ quan, lĩnh vực khác nhau, đã có những cách phân loại CBCC theo từng hệ tiêu chí. Các tiêu chí phân loại này áp dụng với cả CBCC nói chung và CBCC QLKT nói riêng.
Phân loại CBCC QLKT là yêu cầu tất yếu của công tác quản lý nguồn nhân lực. Thông thường, việc phân loại CBCC của Việt Nam được thực hiện theo các tiêu chí như: theo vai trò, vị trí, theo trình độ đào tạo, theo khả năng chuyên môn nghiệp vụ, theo ngạch bậc và theo phân cấp quản lý hành chính. Theo quy định tại Điều 34 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Khoản 4, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và luật viên chức năm 2019, CBCC được phân loại theo 02 căn cứ: - Căn cứ vào lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ, công chức được phân loại theo ngạch công chức tương ứng sau đây: + Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; chuyên viên cao cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ cao nhất của ngành về một lĩnh vực lớn trong hệ thống QLNN, giúp lãnh đạo ở cấp bộ, ngành (từ cấp vụ trở lên đối với lĩnh vực có nghiệp vụ, có độ phức tạp cao) hoặc giúp lãnh đạo UBND tỉnh (trong các lĩnh vực tổng hợp) về chỉ đạo và quản lý lĩnh vực công tác đó. + Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương.
+ Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương + Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên; - Căn cứ vào vị trí công tác, CBCC được phân loại như sau: 11 + CBCC giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: là những người thực hiện chức năng quản lý, chỉ đạo, điều hành công việc của những CBCC dưới quyền trong lĩnh vực QLNN về kinh tế, là người đứng trong hệ thống cơ quan nhà nước trong lĩnh vực quản lý kinh tế của nhà nước ở huyện. + CBCC không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, bao gồm: CBCC chuyên môn nghiệp vụ và nhân viên tác nghiệp trực tiếp. CBCC chuyên môn, nghiệp vụ là những người được đào tạo chuyên môn và có sự am hiểu sâu sắc về một lĩnh vực chuyên môn nào đó, họ là các chuyên viên đảm trách các vấn đề về chuyên môn. Các chuyên viên này ngày càng có vai trò quan trọng trong bộ máy QLNN và họ là những người tham mưu, giúp việc cho CBCC lãnh đạo trong quá trình ra quyết định quản lý.
Nhân viên tác nghiệp trực tiếp, là đội ngũ CBCC có mặt ở hầu hết các cấp quản lý kinh tế khác nhau, các khâu khác nhau của quá trình quản lý. Họ là những người tinh thông nghiệp vụ, trực tiếp tham gia vào các công việc cụ thể và họ là người chuẩn bị các thông tin đầy đủ và chính xác cho các CBCC lãnh đạo trong việc ra các quyết định quản lý (như thư ký, nhân viên đánh máy, văn thư…). Vai trò và đặc điểm của cán bộ, công chức quản lý kinh tế cấp huyện 1. Vai trò của cán bộ, công chức quản lý kinh tế cấp huyện Trong hoạt động QLNN nói chung và hoạt động QLNN về kinh tế nói riêng thì nhân tố con người là một trong những yếu tố có tính chất quyết định đến hiệu lực và hiệu quả của quá trình quản lý.
Xét cả về mặt lý luận và thực tiễn thì yếu tố con người được coi là yếu tố quan trọng nhất vì con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực chính của sự phát triển xã hội, đồng thời con người cũng là mục đích của hoạt động quản lý.