Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp huyện Chương 2. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ CẤP HUYỆN 1.
Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nƣớc về kinh tế 1. Khái niệm, phân loại cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp huyện 1. Khái niệm công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp huyện Cán bộ, công chức là khái niệm được dùng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới nhưng được hiểu không giống nhau, thậm chí ngay trong phạm vi một quốc gia quan niệm về cán bộ, công chức qua các thời kỳ cũng khác nhau. Sau đây là một số quan niệm và định nghĩa CBCC có tính đặc trưng.
Theo luật Công chức của Cộng hòa Pháp, công chức nhà nước được định nghĩa: Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng địa phương quản lý (Thang Văn Phúc, 2015). Luật Công chức Vương quốc Anh, ngay từ năm 1859, đã quy định công chức nhà nước bao gồm hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất là những người do nhà vua Anh trực tiếp bổ nhiệm hoặc được Ủy ban dân sự cấp giấy chứng nhận hợp lệ cho phép tham gia công tác ở cơ quan dân sự. Bộ phận thứ hai là những người mà toàn bộ tiền lương được cấp từ ngân sách thống nhất của Vương quốc liên hiệp hoặc từ các khoản được Quốc hội thông qua (Thang Văn Phúc, 2015). Luật công chức Liên bang của Cộng hòa Liên bang Đức quy định cụ thể về công chức nhà nước như sau: Những người chịu sự chỉ huy, kiểm tra 6 trực tiếp của Liên bang là công chức Liên bang, những người phục vụ ở các đoàn thể xã hội, đoàn thể xây dựng vật chất và tài chính theo luật chung, trực tiếp lệ thuộc Chính phủ Liên bang là công chức gián tiếp.
Tất cả các thành phần trên đều gọi là công chức. Ngoài các thành phần thuộc phạm vi trên, công chức trong quốc hội Liên bang, Thượng viện Liên bang, Tòa án Liên bang cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của luật công chức (Thang Văn Phúc, 2015). Từ những quan niệm về công chức của một số quốc gia nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng công chức thường được hiểu một cách chung là những công dân, được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và chịu sự điều chỉnh của Luật công chức. Ở Việt Nam, khái niệm công chức lần đầu tiên được nêu ra trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành quy chế công chức, theo quy chế này công chức được định nghĩa là: “Những công dân Việt Nam, được chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một vị trí thường xuyên trong các cơ quan của chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do chính phủ quy định”.
Như vậy, công chức chủ yếu là những người làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương. Đội ngũ cán bộ đoàn thể, những người làm việc trong bộ máy chính quyền, đoàn thể địa phương không phải tất cả đều là công chức, thuộc phạm vi điều chỉnh của sắc lệnh. Nhưng do hoàn cảnh đất nước trải qua hai cuộc chiến tranh liên tiếp và kéo dài nên những nội dung quy định trong sắc lệnh không được thực hiện đầy đủ. Trong thực tế thời gian này, người ta thường dùng khái niệm cán bộ để chỉ những người làm việc trong biên chế nhà nước nói chung.
Tuy vậy, sắc lệnh này đã tạo tiền đề, cơ sở để hình thành và phát triển đội ngũ công chức Việt Nam. 7 Theo điều 4 Luật cán bộ công chức năm 2010 khái niệm CBCC được nêu như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Từ khái niệm trên, có thể hiểu CBCC trong lĩnh vực QLNN về kinh tế cấp huyện là bộ phận CBCC hoạt động trong lĩnh vực QLNN có liên quan về kinh tế trên địa bàn huyện.
Họ là đội ngũ lao động quản lý, nhưng trực tiếp trong các lĩnh vực quản lý kinh tế (QLKT). Cán bộ, công chức QLKT có thể coi là những người trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo điều hành để gián tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Do vậy, QLNN về kinh tế trước hết là một nghề có chuyên môn, nghiệp vụ; mặt khác nói đến CBCC là nói đến con người và phải được đặt trong mối quan hệ xác định: Quan hệ đường lối, nhiệm vụ 8 chính trị trong từng thời kỳ; quan hệ với bộ máy và cơ chế chính sách; quan hệ với thực tiễn hoạt động kinh tế của đất nước, của từng địa phương. Công chức QLNN về kinh tế ở cấp huyện làm việc trong các cơ quan sau: - Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện.
- Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện. - Phòng Nội vụ. - Phòng Tài chính - Kế hoạch. - Phòng Kinh tế - Hạ tầng.
- Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn. - Phòng Lao động, Thương binh xã hội. - Phòng Tài nguyên - Môi trường. - Phòng Văn hóa, thông tin - thể thao.
- Phòng Tư pháp. Phân loại cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp huyện Cán bộ, công chức QLNN về kinh tế cấp huyện có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Sau đây là một số cách phân loại điển hình: * Phân loại theo ngành và lĩnh vực: có CBCC QLNN trong công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, thương mại, giao thông vận tải, xây dựng … * Phân loại theo vị trí và tầm quan trọng của CBCC: Có thể chia ra như sau: - Cán bộ QLNN về kinh tế làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý như: Chủ tịch, phó chủ tịch UBND cấp huyện; Chánh, phó văn phòng HĐND và UBND; trưởng phó các cơ quan chuyên môn có chức năng QLNN về kinh tế thuộc UBND cấp huyện. - Công chức chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn chuyên sâu theo từng lĩnh vực công tác cụ thể mà họ được giao.
Họ là những chuyên viên thực hiện những nội dung chuyên sâu trong từng lĩnh vực quản lý. 9 * Phân loại theo ngạch, bậc cán bộ, công chức - Ngạch là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức. Căn cứ để xếp vào ngạch đối với công chức QLNN về kinh tế chủ yếu là do năng lực chuyên môn thể hiện qua các văn bằng phản ánh quá trình đào tạo. Phân loại theo tiêu chí này có các ngạch như: chuyên viên cao cấp; chuyên viên chính; chuyên viên; cán sự; nhân viên.
- Theo bậc: Mỗi ngạch chia thành nhiều bậc. Bậc là các thứ hạng trong một ngạch. Nếu cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ được giao, không vi phạm kỷ luật thì đến thời gian theo quy định sẽ được nâng lên bậc kế tiếp. Ngoài ra, còn nhiều cách phân loại khác như phân loại theo vùng, miền, phân loại theo vị trí địa lý… Tuy nhiên, việc phân loại CBCC QLNN về kinh tế cấp huyện chỉ mang ý nghĩa tương đối nhằm xác định rõ cơ cấu CBCC trong việc quy hoạch mà chưa rõ trình độ, năng lực quản lý của CBCC trong từng loại khác nhau.
Trên thực tế, việc phân biệt các loại CBCC là không đơn giản, xuất phát từ chỗ bộ máy hành chính nhà nước và bộ máy QLNN về kinh tế có sự giao thoa, mặc dù bộ máy QLNN về kinh tế là một phân hệ của bộ máy hành chính nhà nước. Vai trò và đặc điểm của cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp huyện 1. Vai trò của cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp huyện Cán bộ, công chức QLNN về kinh tế cấp huyện có vai trò hết sức quan trọng. Họ là một trong những nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của các chính sách kinh tế của Nhà nước ở địa phương.
Vai trò của họ được thể hiện trên những điểm sau: Thứ nhất, CBCC QLNN về kinh tế cấp huyện có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ chế QLKT, chính sách kinh tế của Nhà nước. Các điều kiện thực tiễn của các địa phương là một trong những căn cứ quan trọng của cơ chế, chính sách kinh tế của quốc gia. Các CBCC QLNN về kinh tế cấp 10 huyện là những người trực tiếp tham gia quản lý các ngành, lĩnh vực, các hoạt động kinh tế ở địa phương, cơ sở. Do đó, họ là người nắm rất vững thực tiễn ở cơ sở.