CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN 1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện 1.1 Khái niệm đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện 1.1 Khái niệm cán bộ và đội ngũ cán bộ cấp huyện * Khái niệm cán bộ Ở nước ta, theo cách hiểu thông thường, trước đây: Cán bộ đựơc coi là tất cả là những người thoát li, làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, quân đội. Trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi như những người có mức lương cán sự một. Hiện nay, theo Từ điển Tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa là “Người làm việc trong cơ quan, đoàn thể đảm nhiệm một công tác lãnh đạo, quản lý, hoặc một công tác nghiệp vụ chuyên môn nhất định”. Trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật viên chức ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2019 định nghĩa: “Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, huyện trực thuộc Trung ương; ở huyện, quận, thị xã, huyện trực thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”.
Trong Luật cũng xác định rõ nội hàm khái niệm đối với cán bộ cấp xã: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội”. Như vậy, khái niệm cán bộ dùng để chỉ là những người giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị Việt Nam từ Trung ương đến cấp huyện, quận và tương đương. Tùy góc độ và mục tiêu xem xét có thể phân biệt đội ngũ cán bộ thành các nhóm sau: Xét về loại hình có thể phân thành: Cán bộ Đảng, đoàn thể, cán bộ Nhà nước, cán bộ kinh tế và quản lý kinh tế; cán bộ khoa học, kỹ thuật. 10 Theo tính chất và chức năng nhiệm vụ có thể phân thành: nhóm chính khách, nhóm lãnh đạo quản lý; nhóm chuyên gia và nhóm công chức, viên chức.
Theo cấp quản lý phân ra: Cán bộ cấp Trung ương; cán bộ cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương; cán bộ cấp huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh; cán bộ cấp xã, phường, thị trấn. * Khái niệm đội ngũ cán bộ cấp huyện Theo từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng: “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp tập hợp thành một lực lượng” [13, tr. Khái niệm đội ngũ tuy có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng đều có một điểm chung, đó là: một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng, để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp, nhưng đều cùng một mục đích nhất định. Ta có thể hiểu: Đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy, thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần.
Ở nước ta, cấp huyện theo phân cấp hành chính bao gồm quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; là cấp hành chính thứ hai, dưới cấp tỉnh và trên cấp xã. Từ cách tiếp cận trên, có thể khẳng định: Đội ngũ cán bộ cấp huyện là tập hợp những công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đội ngũ cán bộ cấp huyện bên cạnh những đặc điểm chung giống như đội ngũ cán bộ các cấp khác về nghĩa vụ và quyền hạn, họ còn có những đặc điểm đặc thù liên quan đến trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, những yêu cầu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Điều này do tính đặc thù của từng huyện và từng địa phương quy định.
Khái niệm đội ngũ công chức 11 Theo nghĩa thông thường, Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Công chức là người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữa một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật viên chức ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2019 định nghĩa: “Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi tắt là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Như vậy, công chức được hiểu một cách chung là những công dân Việt Nam, được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, được xếp vào một ngạch và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; có nghĩa vụ, bổn phận phục vụ nhân dân, phục vụ Nhà nước theo quy định của pháp luật, và chịu sự điều chỉnh của luật công chức. Từ cách tiếp cận trên, có thể khái niệm về đội ngũ công chức cấp huyện như sau: Đội ngũ công chức cấp huyện là tập hợp những công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp huyện Trong hoạt động công vụ của Nhà nước, công chức cấp huyện được phân loại theo các cách khác nhau, cụ thể: Phân loại theo đặc thù tính chất công việc gồm có: (1) công chức lãnh đạo, (2) công chức chuyên gia, (3) công chức chuyên môn, nghiệp vụ, (4) công chức là nhân 12 viên hành chính.
Trong đó: Công chức lãnh đạo. Đây là những người giữ những cương vị chỉ huy trong điều hành công việc, họ là những người được quyền ra các quyết định quản lý, tổ chức và điều hành những người dưới quyền thực hiện công việc. Công chức chuyên gia: Họ là những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, có khả năng nghiên cứu, đề xuất những phương hướng, quan điểm và thực thi công việc chuyên môn phức tạp Công chức thi hành công việc: Đây là những người thực thi công việc thi hành công vụ, thừa hành công việc, nhân danh quyền lực của nhà nước. Họ không có thẩm quyền ra quyết định như các cán bộ, công chức lãnh đạo, họ cũng được trao những thẩm quyền nhất định trong phạm vi công tác của mình khi thực thi công việc.
Công chức nhân viên: Họ là những người thừa hành nhiệm vụ do các công chức lãnh đạo giao phó, phục vụ trong bộ máy nhà nước. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhân viên hành chính ở mức thấp, nên họ phải tuân thủ sự hướng dẫn, chỉ bảo của cấp trên. Phân loại theo ngạch: Đây là cách phân loại được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Với cách phân loại này sẽ chỉ rõ trình độ, năng lực, khả năng chuyên môn và ngành nghề của công chức.
Mỗi ngạch thể hiện một cấp độ về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và có điều kiện, tiêu chuẩn riêng. Phân loại theo ngạch bao gồm: (1) Ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên. (2) Ngạch chuyên viên chính và tương đương. (3) Ngạch chuyên viên và tương đương.
(4) Ngạch cán sự và tương đương. (5) Ngạch nhân viên và tương đương. Từ khái niệm về đội ngũ CBCC cấp huyện cho thấy, đây hai khái niệm khác nhau nhưng đều có chung nội hàm chỉ rõ điều kiện, tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của 13 bộ phận những người công tác trong hệ thống Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội cấp huyện ở nước ta. Tuy nhiên, có thể thấy, giữa cán bộ và công chức có những nét riêng biệt nhất định, cụ thể như sau: Nội dung so Cán bộ Công chức sánh Tính chất – Vận hành quyền lực nhà nước, – Vận hành quyền lực nhà nước, làm làm nhiệm vụ quản lý; nhân nhiệm vụ quản lý.
danh quyền lực chính trị, quyền – Thực hiện công vụ thường xuyên lực công. – Theo nhiệm kỳ Nguồn – Được bầu cử, phê chuẩn, bổ – Thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết gốc, trách nhiệm, trong biên chế. định của cơ quan nhà nước có thẩm nhiệm pháp – Trách nhiệm chính trị trước quyền, trong biên chế. lý Đảng, Nhà nước, nhân dân và – Trách nhiệm chính trị, trách trước cơ quan, tổ chức có thẩm nhiệm hành chính của công chức quyền.
Chế độ lương Hưởng lương từ ngân sách nhà Hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo vị trí, chức danh. nước, theo ngạch bậc. Nơi làm việc Cơ quan của Đảng cộng sản Việt Cơ quan Đảng, nhà nước, tổ chức Nam, Nhà nước, tổ chức chính CT-XH, Quân đội, Công an, Toà trị, tổ chức chính trị- xã hội. Tiêu chí – Năng lực lãnh đạo, điều hành, -Năng lực, trình độ chuyên môn đánh giá tổ chức, quản lý; nghiệp vụ; – Tinh thần trách nhiệm; – Tiến độ và kết quả thực hiện – Hiệu quả thực hiện nhiệm vụ nhiệm vụ; – Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực thi nhiệm vụ; – Thái độ phục vụ nhân dân.
Hình thức kỷ – Khiển trách; – Khiển trách; luật – Cảnh cáo; – Cảnh cáo; – Cách chức; – Hạ bậc lương; – Bãi nhiệm – Giáng chức; – Cách chức; – Buộc thôi việc.