MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề bức xúc tại nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp đã thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển, đời sống người dân tăng lên. Các nhu cầu thiết yếu của con người cũng tăng vì vậy các nhu cầu, dịch vụ cũng phát triển, không chỉ ở các khu vực thành thị mà còn cả ở nông thôn. Đồng hành với những đòi hỏi, yêu cầu về đáp ứng nhu cầu về nhà ở, sinh hoạt… lượng chất thải rắn từ sinh hoạt thải ra ngày càng nhiều làm gia tăng sức ép với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Theo thống kê của Viện Môi trường Nông nghiệp Việt Nam, mỗi năm tại các khu vực nông thôn ở nước ta phát sinh trên 13 triệu rác thải sinh hoạt và có tới 7.500 tấn vỏ bao thuốc bảo vệ thực vât, mỗi người dân nông thôn thải 1,5kg rác/ngày. Công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt mặc dù ngày càng được chính quyền các cấp quan tâm, nhưng năng lực thu gom vẫn còn hạn chế. Mặt khác do nhận thức của người dân còn chưa cao nên lượng rác bị vứt bừa bãi ra môi trường ngày càng nhiều, việc thu gom phân loại tại nguồn vẫn chưa được áp dụng rộng rãi do thiếu đầu tư cơ cơ hạ tầng. Theo báo cáo từ Sở TN&MT tỉnh Thanh Hóa, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt ở tỉnh năm 2019 phát sinh khoảng 20.
Toàn tỉnh có 18 khu xử lý rác thải sinh hoạt bằng công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh , 23 khu xử lý rác thải sinh hoạt bằng công nghệ đốt với công suất 250-500kg/giờ và 2 khu xử lý bằng công nghệ hỗn hợp với công suất 500kg/giờ. Ngoài 3 đô thị là Thành phố Thanh Hóa, Thành phố Sầm Sơn, thị xã Bỉm Sơn được trang bị xe cuốn, ép rác chuyên dụng, ở các huyện còn lại phương tiện thu gom rác chủ yếu là các xe ô tô tải nhỏ, xe công nông và xe thu gom đẩy tay. Các khu xử lý rác thải sinh hoạt chưa đáp ứng được nhu cầu xử lý toàn bộ lượng rác thải sinh hoạt phát sinh, hiệu quả xử lý rác thải chưa cao. Thị trấn Lang Chánh cũng nằm trong những thực trạng trên, là khu vực có tốc độ phát triển kinh tế nhanh.
Cơ cấu kinh tế của thị trấn những năm gần đây có 1 sự chuyển dịch mạnh theo hướng tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm, công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh. Kinh tế càng phát triển thì chất lượng môi trường ngày càng đi xuống, đặc biệt là lượng rác thải phát sinh hàng ngày có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và thành phần gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường và đời sống người dân nơi đây. Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, năm 2014 công ty CP xây dựng và tự động hóa Đức Anh thông qua đề án thành lập công ty môi trường đi vào hoạt động. Công ty được giao nhiệm vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải của thị trấn.
Tuy nhiên, việc thu gom đã không đảm bảo được lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom hết, nhiều người dân không chờ được tới khi thu gom rác thải nên đã tự tiêu hủy lượng rác thải của gia đình mình theo nhiều phương thức khác nhau. Lượng chất thải rắn sinh hoạt để quá lâu và quá nhiều dẫn đến tình trạng môi trường trong thị trấn bị ô nhiễm. Vấn đề tồn tại ấy đã và đang đặt ra một loạt câu hỏi để giải quyết: Người dân tại thị trấn có sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện dịch vụ thu gom rác hay không? Mức sẵn lòng của họ là bao nhiêu? Những yếu tố nào tác động ảnh hưởng đến mức độ sẵn lòng chi trả của họ? Chính vì vậy, nhằm hạn chế mức độ ô nhiễm do rác thải tại khu vực thị trấn Lang Chánh chúng ta phải có cái nhìn nhận đánh giá nghiêm túc vấn đề ô nhiễm ở khu vực này trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp để cải thiện môi trường tại thị trấn. Để góp phần làm rõ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của người dân tại thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa”.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả cho thu gom và xử lý chất thải rắn ở thị trấn Lang Chánh huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa; từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao khả năng chi trả dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới.2 Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về mức sẵn lòng chi trả của người dân cho việc thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt; - Nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả của người dân cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn thị trấn Lang Chánh; - Phân tích yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả của người dân đối với việc thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương; - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao mức sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương; 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu a. Đối tượng nghiên cứu Các vấn đề lý luận và thực tiễn về mức sẵn lòng chi trả của hộ nông dân với việc thu gom và xử lý chất thải rắn trên địa bàn thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa. Đối tượng điều tra - Các hộ gia đình: nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt chủ yếu tở địa phương.
- Công nhân vệ sinh môi trường: những người chịu trách nhiệm trực tiếp thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt. - Cán bộ quản lý môi trường: những người chịu trách nhiệm trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt.2 Phạm vi nghiên cứu a. Phạm vi nội dung Đề tài tập trung nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả của người dân trên địa bàn thị trấn Lang Chánh, đối với việc cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Phạm vi về không gian Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.
Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu của đề tài được thu thập trong giai đoạn 2017-2019. Số liệu sơ cấp tiến hành thu nhập năm 2020 để phục vụ nghiên cứu. Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 1 năm 2021. 4 PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Một số khái niệm 2.1 Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt a.
Khái niệm về chất thải Chất thải là những vật chất, trong một quá trình sản xuất nào đó, không còn khả năng sử dụng nữa và bị loại ra từ quá trình sản xuất đó. Chất thải ra từ hoạt động đời sống từ khu dân cư cũng đều là chất thải. Chất thải có thể ở dạng khí, rắn, lỏng. Chất thải rắn còn được gọi là rác.
Chỗ nào càng tập trung nhiều sinh vật, con người thì chỗ đó càng có nhiều chất thải. Chất thải là vật chất ở dạng rắn, lỏng, khí mùi hoặc ở tất cả các dạng khác thải ra từ sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, hoặc các hoạt động khác của con người (Điều 2 của luật BVMT năm 2005 của Quốc hội, NXB Chính trị Quốc gia). Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt có thể được hiểu là chất thải phát sinh do các hoạt động của con người tồn tại ở dạng rắn được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay không muốn dùng nữa. Theo nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về Quản lý chất thải rắn định nghĩa như sau: Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại.
Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm: kim loại, sỏi đá, cao su, thủy tinh, giấy vụn, thực phẩm tre thừa… c. Tác động của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường Thứ nhất: ảnh hưởng đến môi trường nước Những loại chất thải sinh hoạt có ảnh hưởng đến đời sống của các loài động vật trong nước khiến hệ sinh thái đa dạng của sông ngòi và biển đang dần mất đi. Đặc biệt nước ta là quốc gia giáp biển và có hệ thống sông dày đặc, một bộ phận người dân sống nhờ vào việc đánh bắt thủy, hải sản hay nuôi tôm, cá trên cá vùng 5 nước ngọt cũng ngày càng cạn kiệt, cá tôm chết hàng loạt ở các đập vì môi trường nước bị ô nhiễm. Thứ hai: Ảnh hưởng đến môi trường không khí Rác thải trong quá trình phân hủy tự nhiên thường có mùi hôi thối khó chịu và dễ làm lan nhanh trong không khí thông qua gió, mùi hôi thối phát tán rộng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân.
Khi đốt rác cũng có thể dẫn đến ô nhiễm không khí do những sản phẩm trong quá trình đốt tạo ra các chất độc hại như điôxin, SO2…khói nơi đốt rác có thể làm giảm tầm nhìn, nguy cơ gây cháy nổ, hỏa hoạn Thứ ba: Ảnh hưởng đến môi trường đất Rác thải lâu ngày không được thu gom, xử lý và thải trực tiếp vào môi trường sẽ bị lưu giữ lại trong đất. Các loại rác thải khó phân hủy sinh học hoặc hoàn toàn không phân hủy tồn tại lâu dần dẫn đến chúng trộn lẫn vào đất làm thay đổi thành phần đất, giảm lượng chất hữu cơ, mất môi trường sống của các loại vi sinh vật đất,…từ đó đất sẽ bạc màu, khó canh tác hoặc mất khả năng canh tác. Còn các thành phần rác dễ phân hủy sinh học thường phân hủy thành những chất có khả năng kết hợp với nhau tạo thành các chất độc theo nước ngấm dần xuống đất làm ô nhiễm môi trường đất. Đặc biệt hiện nay, túi ni lông được sử dụng phổ biến trong sinh hoạt và đời sống, chúng cần tới 50 – 60 năm mới phân hủy trong đất.