Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 1.1 Khái quát về dịch vụ 1.1 Khái niệm dịch vụ Theo Kotler &Keller (2006): Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất[18]. Tuy nhiên, theo Zeithaml và cộng sự (2009) dịch vụ là những nhu cầu, thực hiện và quy trình được cung cấp hoặc sao chép bởi một tổ chức hoặc cá nhân cho và với một tổ chức hoặc cá nhân khác. Định nghĩa về dịch vụ này bao gồm cả dịch vụ cốt lõi và hàng hóa vật chất [29].
Svensson (2006) đã đưa ra một định nghĩa bao trùm hơn về dịch vụ với quan điểm dịch vụ xuất phát, gợi ý rằng tất cả các sản phẩm và hàng hóa vật chất đều có giá trị cho dịch vụ vốn có mà chúng cung cấp và giá trị thu được từ hàng hóa vật chất thực sự là dịch vụ được cung cấp bởi hàng hóa chứ không phải bản thân hàng hóa. Dịch vụ khác với sản phẩm do tính vô hình, tính không đồng nhất, sản xuất và tiêu dùng đồng thời và tính dễ hỏng. Ví dụ ngành dịch vụ ô tô chủ yếu liên quan đến việc cung cấp dịch vụ thuần túy, với dịch vụ bảo dưỡng ô tô, kiểm tra MoT, sửa chữa tai nạn, v. Nói tóm lại, có thể hiểu dịch vụ một cách đơn giản là những hoạt động kinh tế nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.2 Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có những đặc trưng ngoại lệ mà sản phẩm không thể nào có được đó là tính vô hình, tính không thể chia tách, tính không đồng nhất, tính dễ hỏng [11].1 Tính vô hình (Intangibility): Đặc điểm khác biệt cơ bản nhất của dịch vụ là tính vô hình.
Người mua không thể nhìn, nghe, cảm nhận hoặc nếm thử một dịch vụ trừ khi nó được mua. Một người trả tiền cho một lần mát-xa sẽ không thấy tác dụng của việc mát-xa cho đến thời điểm mát-xa được thực hiện trên cơ thể của họ. Tương tự, một người muốn đi du lịch nước ngoài bằng đường hàng không sẽ phải mua vé của một hãng hàng không cũng như lên máy bay để đi du lịch và trải nghiệm chuyến bay. Khi người mua không thể cảm nhận trước dịch vụ, họ tìm kiếm các dấu hiệu và bằng chứng về chất lượng dịch vụ.
Việc ra quyết định được thực hiện trên cơ sở thông tin thu được từ cách trình bày, công cụ hoặc thiết bị, địa điểm, thông điệp (nội dung và tài liệu giao tiếp), biểu tượng, con người và giá cả. Hàm ý marketing của tính vô hình: Đặc tính này tạo ra nhiều thách thức cho hoạt động marketing. Do dịch vụ là vô hình nên không thể cho khách hàng nhìn thấy trước hay đưa ra các thông số định lượng cụ thể để khách hàng có thể cảm nhận trước khi sử dụng để thu hút khách hàng. Hơn nữa, dịch vụ vô hình nên không lưu trữ được, do vậy nên trong trường hợp xảy ra biến động của thị trường, nhu cầu tăng giảm thất thường thì rất khó cho nhà quản trị đảm bảo đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của khách hàng.
Do đó, yêu cầu các nhà quản trị phải tìm hiểu kỹ nhu cầu thị trường, dự đoán được xu hướng của thị trường để có những phương án kinh doanh cho phù hợp.2 Tính không đồng nhất (Heterogeneity) Tính không đồng nhất / Tính thay đổi: Dịch vụ là do con người cung cấp nên nó sẽ không có tính đồng nhất, và nó bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau nên chỉ cần ở những thời điểm khác nhau hay địa điểm khác nhau thì chất lượng dịch vụ do chính một người cung ứng cũng có thể sẽ không giống nhau. Ngoài ra, dịch vụ được cung cấp bởi cùng một nhà cung cấp không thể được chuẩn hóa. Ví dụ: một chuyến bay lần thứ hai từ cùng một hãng hàng không sẽ không mang lại trải nghiệm giống như một người đã nhận được trong 7 chuyến bay đầu tiên. Thợ cắt tóc có thể không cung cấp dịch vụ cắt tóc nhất quán cho tất cả các cá nhân tùy thuộc vào thời gian hạn chế của khách hàng, v.
Hàm ý marketing của tính không đồng nhất: Hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ đều thực hiện các bước để tiêu chuẩn hóa dịch vụ được cung cấp nhằm tăng doanh thu và sự hài lòng của khách hàng. Các nhà cung cấp dịch vụ lớn, như một công ty hàng không đầu tư vào đào tạo nhân viên và tuyển dụng đúng người. Có những tiêu chuẩn nhất định được đặt ra về chất lượng mà nhân viên mong đợi. Tương tự, các cuộc khảo sát về mức độ hài lòng của khách hàng được thực hiện để không ngừng cải tiến dịch vụ.3 Tính không thể chia tách (Inseparability) Không thể tách rời dịch vụ được cung cấp và người mua.
Điều này không đúng với các sản phẩm vì chúng được sản xuất, cất giữ ở một nơi khác và được giao khi cần. Một sản phẩm như bánh sandwich có thể được mua và tiêu thụ muộn hơn sau một giờ hoặc lâu hơn nhưng một dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ cùng một lúc. Ví dụ, một thợ cắt tóc cần phải có mặt để cung cấp dịch vụ cắt tóc cho anh ta. Tương tự, bác sĩ chỉ cung cấp dịch vụ của mình khi gặp bệnh nhân.
Có những hạn chế vì điều này. Một sản phẩm có thể được mua với số lượng lớn từ nhiều nơi khác nhau như các cửa hàng bán lẻ. Nhưng cả nhà cung cấp dịch vụ và người mua dịch vụ đều cần phải có mặt để bán dịch vụ. Hàm ý marketing của tính không thể chia tách: Để khắc phục những hạn chế này, các nhà cung cấp dịch vụ gặp gỡ một số lượng lớn khách hàng cùng một lúc hoặc đào tạo các đại diện của họ để cung cấp cùng một dịch vụ cho một số người.
Ví dụ, một giáo viên Yoga có thể thực hiện các buổi học nhóm thay vì chỉ gặp một khách hàng. Tương tự như vậy, giáo viên Yoga có thể đào tạo các cá nhân tham gia các lớp học Yoga với tên tuổi hoặc thương hiệu của mình tại các trung tâm khác nhau.4 Tính dễ hỏng (Perishability) 8 Một dịch vụ không thể được lưu trữ, trả lại hoặc bán lại giống như một sản phẩm hữu hình. Người mua không thể lưu trải nghiệm mát-xa đã mua từ nhà cung cấp dịch vụ. Để trải nghiệm lại, sẽ phải mua lại dịch vụ.
Tương tự, trong trường hợp trải nghiệm không tốt, anh / cô ấy không thể trả lại dịch vụ nếu không hài lòng. Một dịch vụ nếu không được sử dụng sẽ dẫn đến thua lỗ cho nhà cung cấp dịch vụ. Vé máy bay không bán được, khách sạn trống phòng, chiếu phim còn ghế trống là những dịch vụ mất đi vĩnh viễn. Nhà cung cấp dịch vụ nói chung sẽ kinh doanh tốt trong thời gian nhu cầu cao.
Hàm ý marketing của tính dễ hỏng: Do dịch vụ không thể lưu trữ để bán dần như hàng hoá vật chất, do vậy điều cần thiết đối với các nhà quản trị marketing là phải dự đoán được xu hướng thị trường và lập kế hoạch sáng tạo để có thể tận dụng được tối đa nguồn lực của đơn vị. Để khắc phục điều này, có thể giảm giá khi nhu cầu thấp và các dịch vụ bổ sung có thể được cung cấp. Bên cạnh những nỗ lực cao nhất để tiêu chuẩn hóa dịch vụ của một nhà cung cấp dịch vụ, luôn có những khác biệt nhỏ về mức độ dịch vụ được đưa ra.3 Chất lượng dịch vụ 1.1 Khái niệm: Chất lượng dịch vụ là thước đo đánh giá cách thức một tổ chức cung cấp dịch vụ của mình so với sự mong đợi của khách hàng. Khách hàng mua dịch vụ như một sự đáp ứng các nhu cầu cụ thể.
Họ có ý thức hoặc vô thức có những tiêu chuẩn và kỳ vọng nhất định về cách thức cung cấp dịch vụ của công ty đáp ứng những nhu cầu đó. Một công ty có chất lượng dịch vụ cao sẽ cung cấp các dịch vụ phù hợp hoặc vượt quá mong đợi của khách hàng. Chính vì chất lượng dịch vụ do khách hàng quyết định nên sẽ mang tính chất chủ quan, chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào mức độ nhu cầu và mong đợi của khách hàng, vì vậy mỗi khách hàng sẽ có những cảm nhận khác nhau, dẫn đến chất lượng cũng khác nhau. Chất lượng dịch vụ được định nghĩa là thước đo để đáp ứng nhu cầu và mong đợi của khách hàng về dịch vụ.
Do đó, chất lượng dịch vụ có thể được 9 xác định là sự khác biệt giữa mong đợi của khách hàng về dịch vụ và dịch vụ nhận được. Ngoài ra, chất lượng dịch vụ được định nghĩa là “thái độ hoặc nhận định chung của khách hàng liên quan đến ưu thế của dịch vụ”. Khái niệm chất lượng dịch vụ bao gồm quá trình cung cấp dịch vụ và cả kết quả cung cấp dịch vụ [17]. Nhiều chuyên gia đã nhận xét về các yếu tố cấu thành của chất lượng dịch vụ mà các yếu tố chung của chúng bao gồm: [19].
Chất lượng quá trình: chất lượng quá trình hay chất lượng hoạt động là chất lượng của quá trình, thủ tục sản xuất và cung cấp chất lượng dịch vụ cho khách hàng dựa trên bản chất và sự trùng khớp của sản xuất và tiêu dùng dịch vụ. Chất lượng đầu ra: chất lượng đầu ra hoặc chất lượng kỹ thuật được đánh giá sau khi trình bày và tạo ra dịch vụ. Đầu ra là những gì khách hàng nhận được từ các tổ chức dịch vụ hoặc thứ gì đó sẽ còn lại sau khi khách hàng kết thúc giao dịch và khách hàng ít tha thứ hơn cho sai lệch đầu ra dịch vụ so với mong đợi của họ đến sai lệch quy trình. Chất lượng vật chất: chất lượng vật chất là các sản phẩm, hoặc sự hỗ trợ của các sản phẩm và dịch vụ.
Chất lượng tương tác: chất lượng tương tác chỉ ra mối quan hệ và sự tương tác giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ và các tương tác có thể theo các phương pháp khác nhau. Chất lượng tổ chức: Chất lượng tổ chức là quan niệm và nhận thức của công chúng về tổ chức và chất lượng của tổ chức là một khía cạnh vô hình của chất lượng.