phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lƣợng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Chƣơng 3: Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lƣợng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP 1.Lý luận về dịch vụ 1.Khái niệm dịch vụ Có nhiều khái niệm về dịch vụ, theo từ điển tiếng Việt (2004): “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và đƣợc trả công” [18].
Trong kinh tế học, dịch vụ đƣợc hiểu là những thứ tƣơng tự nhƣ hàng hóa nhƣng là phi vật chất. Philip Kotler cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” [11]. Tác giả Nguyễn Văn Thanh cho rằng:“Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hóa, phong phú hóa, khác biệt hóa, nổi trội hóa.
mà cao nhất trở thành những thƣơng hiệu, những nét văn hóa kinh doanh và làm hài lòng cao cho ngƣời tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”[8]. Nhƣ vậy có thể thấy dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con ngƣời, là những hoạt động lao động tạo ra những sản phẩm hàng hóa không tồn tại dƣới dạng hình thái vật thế, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu, nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con ngƣời. Bất kỳ một tổ chức kinh doanh dịch vụ nào cũng đều hình thành những hệ thống cung ứng về dịch vụ của mình. Không có các hệ thống này thì không thể c các dịch vụ.
Mỗi loại dịch vụ cụ thể đều gắn liền với mỗi hệ thống cung ứng nhất định. Hệ thống này lại gắn kết với những ý tƣởng, chất lƣợng dịch vụ của doanh nghiệp và mức độ cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Chính vì vậy khi đề cập đến dịch vụ không thể không nói đến hệ thống cung cấp dịch vụ. Hệ thống cung ứng dịch vụ bao gồm các yếu tố vật chất và con ngƣời đƣợc tổ chức chặt chẽ theo 6 một hệ thống phối hợp hƣớng tới khách hàng nhằm đảm bảo thực hiện quá trình cung cấp và sử dụng dịch vụ một cách có hiệu quả.
Các yếu tố trong hệ thống bao gồm: khách hàng, cơ sở vật chất cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ, ngƣời cung ứng dịch vụ, hệ thống tổ chức nội bộ và bản thân dịch vụ. Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong hệ thống. Nếu có sự thay đổi một yếu tố này đều dẫn tới sự thay đổi toàn hệ thống và thay đổi loại hình dịch vụ. Hệ thống bao hàm quá trình hoạt động có định hƣớng, bao gồm các yếu tố vô hình và hữu hình, các yếu tố vật chất và tâm lý tình cảm đan xen nhau trong quá trình tạo ra dịch vụ.
Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có một số đặc thù, tính chất giúp ta phân biệt với các loại hàng hóa hữu hình khác, và chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lƣợng và không thể nhận thấy bằng mắt thƣờng đƣợc. Peter & Angela (2006) cho rằng dịch vụ có bốn đặc trƣng cơ bản: tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không lƣu trữ và tính không thể chia tách. Tính vô hình: không tồn tại dƣới dạng vật chất, dịch vụ không có hình hài. Các dịch vụ đều vô hình, không thể thấy trƣớc khi đƣợc sử dụng.
Dịch vụ không thể cấp bằng sáng chế và dịch vụ không thể trƣng bày hay quảng bá. Tính không chia cắt đƣợc (không chuyển giao quyền sở hữu): Dịch vụ thƣờng đƣợc sản xuất và tiêu dùng đồng thời hay nói cách khác quá trình sản xuất và quá trình tiêu dùng phải đồng thời diễn ra. Thiếu mặt này thì không có mặt kia, do vậy dịch vụ không thể chuyển giao quyền sở hữu. Tính không ổn định, không đồng nhất: Không có chất lƣợng đồng nhất, điều này cũng có nghĩa hầu hết ngƣời cung cấp dịch vụ đều tiếp xúc với ngƣời tiêu dùng ở một mức độ nào đó và đƣợc khách hàng cảm nhận đó nhƣ là một phần không thể tách rời khỏi sản phẩm dịch vụ đó.
Vì tính chất này nên rất khó để đánh giá đƣợc chất lƣợng dịch vụ. Tính không lƣu trữ đƣợc: Dịch vụ không đƣợc lập kho để lƣu trữ nhƣ hàng hóa đƣợc. Hoạt động cung cấp dịch vụ thƣờng đƣợc ấn định về mặt thời gian và không gian và có một công suất phục vụ đƣợc ấn định trong ngày. Công suất chỉ trở 7 nên hữu dụng khi khách hàng hiện diện tại địa điểm của nhà cung cấp dịch vụ.
Mỗi dịch vụ chỉ đƣợc tiêu dùng một lần duy nhất, không lặp lại. Dịch vụ bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Ngoài các tính chất trên, dịch vụ có thể đƣợc mô tả với các thuộc tính nhƣ sau: Thiếu tính chất có thể chuyên chở đƣợc: Dịch vụ phải đƣợc tiêu thụ tại nơi “sản xuất” dịch vụ. Thiếu tính đồng nhất: Dịch vụ thƣờng đƣợc sửa đổi để phù hợp cho mỗi khách hàng.
Việc sản xuất hàng loạt rất khó đối với dịch vụ. Cả việc nhập và xuất của quá trình cung cấp dịch vụ thì rất dễ biến đổi cũng nhƣ các mối quan hệ của quá trình này nên rất khó duy trì chất lƣợng đồng nhất. Yếu tố nhân lực: Dịch vụ bao gồm đáng kể các hoạt động của con ngƣời, hơn là các quá trình đƣợc định ra một cách chính xác. Vì vậy quản trị nhân lực trong kinh doanh dịch vụ là rất quan trọng, nhân tố con ngƣời thƣờng là nhân tố then chốt mang lại sự thành công trong ngành dịch vụ.
Biến động nhu cầu: Rất khó để dự đoán nhu cầu, nhu cầu dịch vụ có thể thay đổi theo mùa, thời gian trong ngày, chu kỳ kinh doanh. Phải có mặt ngƣời mua dịch vụ: Hầu hết việc kinh doanh dịch vụ đều đòi hỏi phải có mức độ tƣơng tác cao giữa khách hàng và ngƣời cung cấp dịch vụ. Lý luận về HTX và HTXNN 1. Khái niệm HTX, HTXNN a, Khái niệm HTX Hợp tác là sự kết hợp sức lực của các cá nhân hoặc đơn vị để tạo nên sức mạnh lớn hơn, nhằm thực hiện những công việc mà mỗi cá nhân, đơn vị hoạt động riêng lẻ sẽ gặp khó khăn, thậm chí không thể thực hiện đƣợc, hoặc thực hiện đƣợc cũng kém hiệu quả so với hợp tác.
Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế hợp tác tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của từng thành viên với ƣu thế và sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất - kinh doanh và đời sống kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích 8 của mỗi thành viên. Kinh tế hợp tác có hai hình thức, đó là tổ hợp tác (hợp tác giản đơn) và HTX. HTX hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Năm 1942, Ivan Emelianoff, một nhà nghiên cứu về HTX nhận xét rằng sự đa dạng của HTX là muôn màu muôn vẻ và sự biến đổi của HTX thật sự là không thể đếm xuể.
Ngày nay, HTX có mặt ở hầu hết các quốc gia và có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về HTX. Liên minh HTX quốc tế (International cooperrative alliance - ICA) đƣợc thành lập tháng 8 năm 1895 tại Luân Đôn, Vƣơng quốc Anh, đã định nghĩa HTX nhƣ sau: HTX là một tổ chức tự trị của những ngƣời tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ; Năm 1995, định nghĩa này đã đƣợc hoàn thiện: HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết. Theo truyền thống của những ngƣời sáng lập ra HTX, các xã viên HTX tin tƣởng vào ý nghĩa đạo đức, về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc ngƣời khác. Tổ chức Lao động quốc tế (International Labuor Organization - ILO) định nghĩa "HTX là sự liên kết của những ngƣời đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX phù hợp với nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung".
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về HTX, cũng nhƣ sự khác nhau về đặc điểm, cơ chế tổ chức, phƣơng thức hoạt động của các mô hình HTX ở các nƣớc trên thế giới, song các loại hình HTX đều có một số đặc điểm chung, đó là: HTX là một tổ chức kinh tế do các chủ thể kinh tế tự nguyện góp vốn, góp sức hình thành. Hoạt động của HTX chủ yếu nhằm mục đích phục vụ hoạt động kinh tế của các thành viên tham gia với phƣơng châm giúp đỡ lẫn nhau (cũng là giúp đỡ chính mình). Ngoài ra, hoạt động của HTX còn mang tính cộng đồng xã hội - tƣơng trợ, giúp đỡ 9 cộng đồng. Bởi vậy, lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất của HTX.
Ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới, để tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của HTX, Luật TX năm 1996 ra đời, Luật HTX năm 2003, sau đó đƣợc thay thế bởi Luật HTX năm 2012 (có hiệu lực từ 01/7/2013).