MỞ ĐẦU 1-LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Hóa học là môn họcvừa thực nghiệm vừa lý thuyết có tính trừu tượng rất cao,để học sinh có thể hiểu sâu sắc bài học thì rất cắn đến bài tập kèm theo.Nhưng bài tập hóa học rất đa dang nên rất cắn đến sự phân loại ,mặt khác,trình độ của học sinh cũng không phải là đồng nhất,do vậy cũng rất cẩn thiết phải phân hóa bài tập hóa học cho phù hợp với từng mức trình độ của học sinh.Bản thân là giáo viên trong tương lai tôi muốn nâng cao trình độ của mình , cũng là nâng cao chất lượng giảng dạy môn hóa ở trường THPT, do đó tôi chọn để tài này. 2-MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Nâng cao chất lượng day và học hóa học ở trường THPT thông qua việc phân loại và phân hóa bài tập hóa học. Thực hiện ở chương Oxi-Lưu huỳnh (hóa học 10). 3-LỊCH SỬ VẤN ĐỀ: Cho đến nay, vấn để phân loại và phân hóa bài tập hóa học không phải là mới mẻ, nó đã được các giáo viên thực hiện từ lâu.
Tuy nhiên , để tài của tôi nghiên cứu có những nét mới: - su kết hợp giữa phân loại và phân hóa bài tập hóa học - _ thực nghiệm tại một lớp chuyên Hóa :10AŸ-trường THPT chuyên Trin Dai Nghĩa 4-NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: -Tổng kết lý thuyết về bài tập hóa học -Tổng kết kiến thức ly thuyết véchuong Oxi-Lưu huỳnh -Biéu tra thực tế “Thực nghiệm trên giáo án chương Oxi-Lưu huỳnh ttrong phạm vi đợt thực tập sự phạm -Xử lý số liệu nghiệm và rút ra kết luận sư phạm. 5-KHACH NGHIÊN CUU : Quá trình dạy và học hóa học ở trường THPT 6-ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :bài tập hóa học ở trường THPT(chương Oxi-Lưu huỳnh,lớp 10) 7-GIA THUYẾT KHOA HỌC : Nếu như việc phân loại và phân hóa bài tập hóa học được tiến hành tốt thì: -tác dụng của bài tập hóa học sẽ được phát huy tốt -học sinh sẽ hiểu bài sâu sắc hơn và yêu thích môn hóa học hơn 8-PHƯƠNG PHÁP LUẬN: Dựa trên quan điểm của triết học duy vật biện chứng về quá trình nhận thức của học sinh 9-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC -Phương pháp tổng kết lý thuyết -Phương pháp trắc nghiệm điều tra thực tế -Phương pháp thống kê toán học 10-GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI: Các bài tập trong chương Oxi-Lưu huỳnh (hóa học 10-Lớp chuyên hoá) CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.CƠ SỞ LÍ THUYẾT VE QUÁ TRÌNH DAY Cấu trúc chức năng của quá trình dạy học 1. QUA TRÌNH DẠY HỌC LA MỘT HỆ TOÀN VEN Điều này có nghĩa là các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng quy định lẫn nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng: a-giữa dạy và học b-giữa truyền đạt với điểu khiển trong dạy c-giữu lĩnh hội với tự điều khiển trong học. Vậy , phải làm sao để có quá trình dạy học tối ưu ? GS Nguyễn Ngọc Quang đưa ra phương án như sau: “Xuất phát từ logic của khái niệm khoa học và logic lĩnh hội của học sinh, thiết kế công nghệ day học hợp lí,tổ chức tối ưu hoạt đông day học công tic , bảo đảm liên hê nghích, để cuối cùng làm cho học sinh tự giác tích cực tự lực chiếm lĩnh được khái niệm khoa học, phát triển năng lực, hình thành thái độ.
” “tổ chức tối ưu hoạt đông day học công tác. bảo đảm liên hệ nghịch ”- trong quá trình day học phải chú ý đến điều này.Do sự thống nhất biện chứng với nhau, khi quá trình học xuất hiện mâu thuẫn ( có thé là giữa nhu cầu học tập với năng lực tiếp nhận tri thức v.)thì quá trình day cũng phải có những tác động thích hợp để giải quyết mâu thuẫn này nhằm làm cho quá trình dạy học tiếp tục phát triển.KHAI NIỆM CHUNG VỀ BÀI TẬP HOÁ HỌC: Bài tập hoá học (BTHH) là một bộ phận không thể thiếu trong nội dung giảng dạy của bộ môn hoá học ở trường trung học phổ thông. Các nội dung lý thuyết của bộ môn rất đa dạng, phong phú do lịch sử hàng ngàn năm của môn hoá, ngành hoá, và do sự phát triển không ngừng của hoá học hiện đại, do vậy những giờ học lý thuyết chưa đủ để tạo sự bến vững nơi học sinh về các kiến thức và kỹ năng về hoá học. “học đi đôi với hành”, trong khuôn khổ nhà trường THPT thì việc thực hành gồm cả nội dung giải quyết các bài tập, trong đó có BTHH.
Vậy: BTHH là những bài tập có liên quan đến hoá học được đưa ra để học sinh giải quyết với các mục đích: 1, Giúp học sinh hiểu rd và khắc sâu kiến thức. 2, Hệ thống hoá các kiến thức đã học. 3, Rèn luyện một số kỹ năng, kỹ xảo: - - Sử dụng ngôn ngữ hoá học. - _ Lập công thức, cân bằng phương trình phản ứng.
- Tinh toán theo công thức, phương trình. - Các tính toán đại số: quy tắc tam xuất, giải phương trình và hệ phương trình. Kỹ năng giải từng loại bài tập khác nhau. Phát triển tính tích cực và sáng tạo của học sinh.
Phát triển tư duy của học sinh: rèn luyện các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh, qui nạp, điễn địch. Cung cấp kiến thức mới, mở rộng hiểu biết của học sinh về các để tài thực tiễn trong đời sống và sản xuất hoá học. Giúp giáo viên đánh giá kiến thức và kỹ năng của học sinh vé hoá học. Giúp học sinh tự đánh giá được kiến thức của mình, kịp thời bổ sung các lỗ hổng trong kiến thức.
Rèn luyện cho học sinh tính kiên trì cẩn thận, chăm chỉ, sự chính xác và ti mi trong khoa học, rên luyện lòng yêu khoa học từ sự yêu thích bộ môn (các bài tập có sự gây hứng thú nhận thức). SỰ PHÂN LOẠI BÀI TẬP HÓA HỌC 1.T isaoph i phân loại bài tập hoá học? BTHH rất đa dạng và phong phú, đo vậy sẽ rất khó khăn cho học sinh trong việc tiếp nhận tri thức và kĩ năng từ việc giải quyết các BTHH nếu như không có sự phân loại BTHH một cách hợp lý. Ngoài ra, người giáo viên giảng dạy môn hoá cũng sẽ gap khó khăn trong công việc đi tìm các phương pháp dạy học tối ưu đối với BTHH. Hay nói cách khác, ích lợi của việc phân loại BTHH: + Đối với học sinh; dễ học, dễ nhớ.
+ Đối với giáo viên: dé day, day có hiệu quả. Vì sao việc phân loại BTHH lại giúp học sinh dé học, dé nhớ? BTHH vô cùng phong phú đa dạng di kèm theo rất nhiều ngành hoá học khác nhau (hoá đại cương, vô cơ, hữu cơ, hoá phân tích, trong hữu cơ lại có hydrocacbon, dẫn xuất của hydrocacbon, rượu, phenol, amin.)nếu không có sự phân loại thì sự nắm bat các kỹ năng giải bài tập của các học sinh sẽ rất lan man do vậy khi gặp một bài tập do vậy khó học và dé quên, Nếu sự phân loại được thực hiện hợp lý thì các kỹ năng giải quyết bài tập của một học sinh được rèn luyện thành thạo với mỗi dạng, do vậy khi gặp một bài tập em đó có thé nhanh chóng xác định dạng và phương pháp giải quyết. Nói cách khác việc phân loại BTHH giúp học sinh nhanh chóng xác định đúng đắn được dạng bài tập và phương pháp giải quyết bài tập.2 Các cách phân loại bài tập hoá học. Có nhiều cách phân loại BTHH, mỗi cách dựa trên một cơ sở khác nhau: 1> Dựa vào nội dung toán học củaBTHH.
- Bai tập định tính. - Bai tập định lượng. 2> Dựa vào hoạt đông của học sinh khi giải bài tập - Bai tập lý thuyết - Bai tập thí nghiệm. 3> Dựa vào nội dung hoá học của BTHH.
- Bài tập hoá đại cương + Bài tập về chất khí + Bài tập về điện phân. + Bài tập về dung dich. - Bai tập hoá vô cơ. + Bài tập về các kim loại.
+ Bài tập về các phi kim. + Bài tập về các loại hợp chất(Oxit, Axit, Bazơ, Muối.) - Bai tập hoá hữu cơ. + Bài tập về hydrocacbon. + Bài tập về rượu — phenol — amin.
+ Bài tập về andehit — axit cacboxylic- este. 4> Dựa vào nhiệm vụ đặt ra và yêu cầu của bài tập. - Bài tập cân bằng PTPU - Bài tập viết chuỗi phản ứng - Bài tập điểu chế. - Bài tập nhận biết.
- Bài tập tách chất khỏi hỗn hợp. - Bài tập xác định thành phần hỗn hợp. - _ Bài tập lập CTPT - Bài tập tìm nguyên tố chưa biết. 5> Dựa vào khối lượng kiến thức, mức độ đơn giản hay phức tạp của bài tập : - Bài tập dang cơ bản - Bài tập tổng hợp 6> Dựa vào cách thức tiến hành kiểm tra: - Bài tập trắc nghiệm.
- Bài tập tự luận. 7> Dựa vào phương pháp giải bài tập. Bài tập tính theo công thức và phương trình. - Bài tập biện luận - Bài tập dùng các giá trị trung bình.
8> Dựa vào mục đích sử dụng: - Bai tập dùng kiểm tra đầu gid. - Bài tập dùng củng cố kiến thức - Bài tập dùng ôn luyện, tổng kết - Bài tập dùng bồi dưỡng học sinh giỏi. - Bài tập dùng phụ đạo học sinh yếu.3 Lựa chọn một cách phân loại cho phù hợp với thực tiễn giảng dạy. Như đã phân tích ở trên, có rất nhiều cách phân loại bài tập hóa học , thế nhưng thực tế , các giáo viên hiện nay vẫn thường sử dụng cách phân loại sau: 1, Bài tập lý thuyết Hình thức:thông thường là các câu hỏi, không có yêu cầu về tính toán.
Đây là dạng bài tập giúp học sinh: ~ Chính xác hoá khái niệm. - _ Củng cố và hệ thống lại kiến thức. - Rèn luyện các kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, sử dụng các tài liệu và ngôn ngữ hoá hoc. - _ Chuẩn bị để nghiên cứu một vấn để mới.
Bài tập thực nghiệm: Có thể gồm một số dạng như sau: - Lầm thí nghiệm thể hiện tính chất hóa học của | chất. - - Nhận biết, phân loại hoá chất đựng trong lọ mất nhãn. - Tinh chế — tách chất. - - Điều chế một chất.
- Pha chế dung dịch. - - Nhân xét về cách thức tiến hành thí nghiệm.(có thể là về cách lắp dụng cu, hay sử dụng hoá chất hợp lý hay chưa,hoặc vẽ hình .) Quan sát và mô tả các hiện tượng trong thí nghiệm bằng ngôn ngữ hoá học. Đây là dạng bài tập giúp học sinh: -củng cố lý thuyết -rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo thực hành Những tính chất của dạng bài tập hóa học thực nghiệm: -mặt lý thuyết:muốn chon ra được phương dn giải quyết các yêu cấu thực nghiệm thi học sinh phải nắm vững lý thuyết.