Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC HÁT VÀ CA KHÚC MẦM NON 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Ca khúc Theo tác giả Dương Viết Á, trong cuốn Âm nhạc - Lý luận và cây đời thì “ca khúc là một thể loại nhạc hát - nhạc có lời”. Tác giả cũng phân tích rõ rằng: "Trong ca khúc, mặt mạnh của âm nhạc với sức gợi cảm xúc và gợi tưởng tượng lại được bổ xung thêm mặt mạnh của lời ca với tính xác định, tính phổ biến của ngôn ngữ đã đem lại cho thể loại này vị trí và vai trò đặc biệt trong đời sống xã hội" [1, tr.
Trong dân gian, tùy theo tính thực hành xã hội mà có nhiều loại ca khúc khác nhau. Có loại gắn với nghi thức tín ngưỡng trong hội hè, nhưng có loại lại gắn với trò chơi, ru con, hay lao động sản xuất. Trong AN chuyên nghiệp cũng vậy, do nhu cầu phải phản ánh hiện thực cuộc sống xã hội, nên ca khúc đã có nhiều dòng với nhiều loại thể khác nhau với hình thức đơn giản. Phân chia ca khúc thành nhiều loại khác nhau là việc vô cùng khó khăn.
Theo tác giả Hoàng Phê trong cuốn Từ điển tiếng Việt thì “Ca khúc là bài hát ngắn có bố cục mạch lạc” [32, tr. Tác giả cũng đã chỉ ra danh từ ca khúc trong Từ điển tiếng Việt chưa thật chính xác hoàn toàn, vì trên thực tế có những ca khúc không theo cấu trúc thường thấy là 1, 2 hoặc 3 đoạn đơn. Từ những quan điểm, nhận định và phân tích trên, chúng tôi hiểu rằng: Ca khúc là một thể loại thanh nhạc thường có cấu trúc ngắn gọn, có tên tác giả bao gồm hai yếu tố chủ đạo là ÂN và lời ca, chứa đựng những tâm tư và tình cảm của tác giả với những hình tượng nghệ thuật phản ánh hiện thực khách quan về thiên nhiên, con người và xã hội… 10 Ca khúc MN Ca khúc MN là những bài hát được sáng tác cho trẻ em ở lứa tuổi nhà trẻ - mẫu giáo, với cấu trúc ngắn gọn, chân phương, đơn giản, giai điệu thường vui tươi, âm vực không quá rộng, ca từ trong sáng, mộc mạc, dễ hiểu, giản dị, dễ hát và dễ thuộc, vừa mang chức năng giải trí, vừa mang chức năng giáo dục. Mỗi ca khúc là một bức tranh với những gam màu tươi sáng, mô tả cảnh sinh hoạt, vui chơi, học tập của trẻ khi ở nhà, ở trường…như: bài Nhong nhong nhong của Lý Thu Huyền; bài Con gà trống của Tân Huyền; bài Lời chào buổi sáng của Nguyễn Thị Nhung; bài Biết vâng lời mẹ của Minh Khang… 1.
Dạy học và phương pháp dạy học 1. Dạy học Các nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng: “Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người”. Một số khác dựa trên quan điểm phát triển, nhất là phát triển về khoa học và công nghệ cho rằng: Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học [55]. Theo tác giả Phạm Viết Vượng, trong cuốn Giáo dục học, “Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là một trong những con đường để thực hiện mục đích giáo dục” [49, tr.
Theo nhóm tác giả Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Thị Bích Hạnh, Hồ Văn Liên, Mai Ngọc Luông, Vũ Khắc Tuân, trong cuốn Giáo dục hoc “Dạy học là hệ thống tương tác của nhiều thành tố (thầy, trò, nội dung, môi 11 trường) nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển người học, là hình thức chủ yếu của giáo dưỡng” [34, tr. Từ những quan điểm về khái niệm dạy học nêu trên, chúng tôi hiểu và thống nhất rằng: Dạy học là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh, trong đó hoạt động giảng dạy của giáo viên đóng vai trò chủ đạo, hoạt động học tập của học sinh đóng vai trò chủ động nhằm thực hiện được mục đính và nhiệm vụ dạy học. Phương pháp dạy học Trong cuốn Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, tác giả Phan Trọng Ngọ đã định nghĩa một cách chung nhất “Phương pháp dạy học là những con đường, cách thức tiến hành dạy học” [28, tr. Theo nhóm tác giả Phạm Thị Hồng Vinh, Trần Thị Tuyết Oanh, Từ Đức Văn, Vũ Lệ Hoa, Nguyễn Thị Tình, Trịnh Thuý Giang, Nguyễn Thị Thanh Hồng, trong cuốn Giáo trình Giáo dục học - Tập hai thì “Phương pháp dạy học là hệ thống cách thức hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục thực hiện sự thống nhất với nhau nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục phù hợp với mục đích giáo dục đặt ra” [48, tr.
Theo quan điểm của tác giả Phạm Viết Vượng, trong cuốn Giáo dục học, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, “Phương pháp dạy học được hiểu là tổ hợp các cách thức phối hợp hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm giúp học sinh nắm vững những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo” [49, tr. Phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy. Từ những quan điểm, nhận định nêu trên, chúng tôi hiểu rằng: Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy 12 học. Phương pháp dạy học là yếu tố quyết định hiệu quả của giáo dục, mỗi phương thức giáo dục lại có một hệ thống phương pháp đặc thù với đặc điểm của phương thức đó.
Phương pháp dạy học tích cực Phương pháp dạy học tích cực là một hướng tiếp cận trong việc giáo dục và giảng dạy nhằm khuyến khích sự tương tác tích cực và tham gia chủ động của người học trong quá trình học tập, đang được áp dụng rộng rãi và phổ biến hiện nay. Trong cuốn Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường tác giả Phan Trọng Ngọ đã giải thích cụ thể về phương pháp dạy học tích cực là các yếu tố kỹ thuật được thiết kế dựa trên đặc điểm tâm lý của người học và đã chú trọng khai thác, phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực tham gia của người học vào quá trình tương tác giữa người dạy và người học, đồng thời làm tăng tính cá thể hoá trong quá trình dạy học [28, tr. Từ cách giải thích trên, chúng tôi hiểu rằng: thay vì đặt trọng điểm vào việc chú trọng kiến thức và thông tin truyền đạt từ phía người dạy, chỉ ra những điểm yếu và hạn chế của người học, phương pháp dạy học tích cực tập trung vào việc tạo ra môi trường học tập động lực, luôn khuyến khích và động viên người học để họ phát triển tối đa tiềm năng, làm chủ quá trình học tập của mình. Phương pháp dạy học hát Dạy học hát là môn dạy học thực hành mang tính đặc thù, có sự tương tác trực tiếp giữa người dạy và người học để đạt được mục đích dạy học những kiến thức về ca hát, các kỹ năng thực hành về kỹ thuật hát như: hơi thở, khẩu hình, phát âm nhả chữ, vị trí âm thanh, tư thế và các kỹ thuật xử lý sác thái, tình cảm… của bài hát.
Dạy học hát do người dạy sử dụng các phương pháp nhằm gợi mở, hướng dẫn và có khi truyền đạt những kiến thức về hát một cách trực tiếp cho người học với nhiều hoạt động học khác nhau để lĩnh hội được những nội dung từ người dạy một cách linh hoạt. 13 Trong mỗi một độ tuổi, ở mỗi cấp học, bậc học, tuỳ theo từng đối tượng người học cụ thể và yêu cầu của chương trình dạy học khác nhau, người dạy xác định rõ mục tiêu, nội dung, các phương pháp dạy học hát theo lối truyền thống và hiện đại (đọc nhạc ghép lời, truyền khẩu, kết hợp các hoạt động và phương tiện công nghệ hỗ trợ) đạt được mục đích dạy học hát. Kỹ năng Khi nói đến kỹ năng, tùy theo quan điểm và góc nhìn chuyên môn của mỗi người mà đưa ra các khái niệm khác nhau. Tuy nhiên, giữa các khái niệm ấy đều chung một cách nhìn là khi lý thuyết được áp dụng vào thực tiễn sẽ hình thành kỹ năng và kỹ năng thì luôn có mục đích và được định hướng rõ ràng.
Theo Hà Nhật Thăng, Lê Quang Sơn trong cuốn Rèn luyện kỹ năng sư phạm thì: “Kỹ năng là cách thức vận động và sáng tạo các biện pháp tổ chức, điều khiển quá trình hoạt động. Theo nhóm tác giả Nguyễn Thị Thế Bình, Vũ Thị Mai Hường, Nguyễn Thị Mai Lan, Kiều Phương Thuỳ trong cuốn Rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm trong đào tạo giáo viên thì “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế” hay “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp hoàn cảnh và những điều kiện cho phép” [4, tr. Người có kỹ năng phải là người nhận thức đúng, hiểu rõ công việc mình phải làm, có những hành động đúng phù hợp với quy luật vận động của đối tượng để đạt được kết quả như mục tiêu đã đề ra. Như vậy, có thể hiểu rằng: Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức, sự hiểu biết của bản thân để thực hiện hoặc giải quyêt vấn đề, có thể là nghề nghiệp mang tính kỹ thuật, chuyên môn hoặc việc liên quan đến cảm xúc.
Rèn luyện kỹ năng Bất cứ một hoạt động nào cũng cần có một số kỹ năng nhất định, kỹ năng đó được rèn luyện tới mức thành thạo một số thao tác được tự động hoá, trở thành kỹ xảo thì hoạt động mới có kết quả tốt. Để rèn luyện kỹ năng, người ta cần có sự kiên trì, nỗ lực tập trung vào việc học tập và thực hành.