Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ĐẤU THẦU 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng công tác đấu thầu 1. Khái niệm về đấu thầu Trong nền kinh tế thị trường, người mua luôn mong muốn có được hàng hóa và dịch vụ tốt nhất với chi phí thấp nhất. Vì vậy, mỗi khi có nhu cầu mua sắm một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó, họ thường tổ chức đấu thầu để các nhà thầu cạnh tranh về mặt kỹ thuật, công nghệ, chất lượng và giá cả.
Trong các cuộc đấu thầu như vậy, nhà thầu nào đưa ra được mẫu hàng hóa và dịch vụ phù hợp nhất với yêu cầu của người mua và có giá thấp nhất sẽ được người mua chấp nhận và trao hợp đồng. Tuy nhiên, không phải lúc nào người mua cũng yêu cầu chất lượng hàng hóa và dịch vụ tốt nhất. Tùy theo nhu cầu sử dụng, người mua sẽ đưa ra các thông tin cơ bản về yêu cầu chất lượng hàng hóa, điều kiện giao hàng, tiến độ giao hàng, điều kiện thanh toán và các yêu cầu khác. Nhà thầu căn cứ vào nội dung yêu cầu ghi trong hồ sơ mời thầu để xây dựng và nộp hồ sơ dự thầu cho người mua.
Nhà thầu nào có hồ sơ dự thầu đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu và có giá dự thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch, trừ đi giá trị giảm giá (nếu có) thấp nhất(đối với gói thầu áp dụng phương pháp giá thấp nhất) hoặc có tổng giá đánh giá của gói thầu là thấp nhất (đối với gói thầu áp dụng phương pháp giá đánh giá) hoặc có tổng điểm tổng hợp cao nhất (đối với gói thầu áp dụng phương pháp kết hợp giữa kỹ thuật và giá) sẽ được trọn để trao hợp đồng. Như vậy đấu thầu là một “cuộc chơi” do người mua tổ chức và “người chơi” là những nhà thầu, “luật chơi” được pháp luật quy định. Người mua sẽ có nhiều cơ hội chọn mua được hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn yêu cầu của mình với giá thấp nhất có thể. 6 Thuật ngữ “đấu thầu” đã xuất hiện từ xa xưa.
Theo từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 2016) thì đấu thầu được giải thích là việc “đo công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng (một phương thức giao làm công trình hoặc mua hàng)”. Như vậy bản chất của việc đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như là một sự ganh đua (cạnh tranh) để được thực hiện một việc nào đó, một yêu cầu nào đó. Theo Điều 4 – Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 thì: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”. Các khái niệm liên quan: + Bên mời thầu là cơ quan, tổ chức có chuyên môn và năng lực để thực hiện các hoạt động đấu thầu, bao gồm: +Chủ đầu tư là tổ chức sở hữu vốn hoặc tổ chức được giao thay mặt chủ sở hữu vốn, tổ chức vay vốn trực tiếp quản lý quá trình thực hiện dự án.
+Chứng thư số là chứng thư điện tử do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký sổ cấp để thực hiện đấu thầu qua mạng trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. +Cơ quan nhà nước có thẩm quyền là cơ quan ký kết hợp đồng với nhà đầu tư. +Đấu thầu qua mạng là đấu thầu được thực hiện thông qua việc sử dụng hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. +Đấu thầu quốc tế là đấu thầu mà nhà thầu, nhà đầu tư trong nước, nước ngoài được tham dự thầu.
+Đấu thầu trong nước là đấu thầu mà chỉ có nhà thầu, nhà đầu tư trong nước được tham dự thầu. 7 +Giá gói thầu là giá trị của gói thầu được phê duyệt trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu. +Giá dự thầu là giá do nhà thầu ghi trong đơn dự thầu, báo giá, bao gồm toàn bộ các chi phí để thực hiện gói thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu. +Giá đề nghị trúng thầu là giá dự thầu của nhà thầu được đề nghị trúng thầu sau khi đã được sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, trừ đi giá trị giảm giá (nếu có).
+Giá trúng thầu là giá được ghi trong quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu. +Giá hợp đồng là giá trị ghi trong văn bản hợp đồng làm căn cứ để tạm ứng, thanh toán, thanh lý và quyết toán hợp đồng. + Gói thầu là một phần hoặc toàn bộ dự án, dự toán mua sắm; gói thầu có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dự án hoặc là khối lượng mua sắm một lần, khối lượng mua sắm cho một thời kỳ đối với mua sắm thường xuyên, mua sắm tập trung. +Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia là hệ thống công nghệ thông tin do cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu xây dựng và quản lý nhằm mục đích thống nhất quản lý thông tin về đấu thầu và thực hiện đấu thầu qua mạng.
+Hồ sơ mời thầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, bao gồm các yêu cầu cho một dự án, gói thầu, làm căn cứ để nhà thầu, nhà đầu tư chuẩn bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu tổ chức đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. +Hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất là toàn bộ tài liệu do nhà thầu, nhà đầu tư lập và nộp cho bên mời thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu. +Thời điểm đóng thầu là thời điểm hết hạn nhận hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất. 8 +Thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất là số ngày được quy định trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và được tính kể từ ngày có thời điểm đóng thầu đến ngày cuối cùng có hiệu lực theo quy định trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu.
Từ thời điểm đóng thầu đến hết 24 giờ của ngày đóng thầu được tính là 01 ngày. Vai trò của Đấu thầu đối với phát triển kinh tế - xã hội Đấu thầu là một phương pháp quản lý, một phạm trù kinh tế gắn liền với sự ra đời của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Có những cách hiểu khác nhau về đấu thầu, bởi xuất phát từ mục đích của các chủ thể khi tham gia vào cuộc đấu thầu là khác nhau, cụ thể: - Trên phương diện của chủ đầu tư: Mục đích của chủ đầu tư là lựa chọn được nhà thầu trúng thầu đáp ứng được yêu cầu kinh tế kỹ thuật. - Trên phương diện của nhà thầu: Mục đích của nhà thầu là thông qua đấu thầu, nhà thầu dành được cơ hội trúng thầu.
- Trên phương diện quản lý Nhà nước: Mục đích của Nhà nước là thông qua đấu thầu, nhà nước quản lý các dự án đầu tư xây dựng và qua đó lựa chọn được nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu. Theo lý thuyết hành vi, trong một cuộc mua bán, bao giờ người mua cũng cố gắng mua được hàng hóa với giá thấp nhất ở chất lượng nhất định, còn người bán lại cố gắng bán được mặt hàng đó ở mức giá cao nhất có thể, do đó nảy sinh sự cạnh tranh giữa người mua (chủ đầu tư) và người bán (các nhà thầu). Mặt khác, do hoạt động mua bán này lại diễn ra với chỉ một người mua và nhiều người bán, nên giữa người bán (các nhà thầu) phải cạnh tranh để bán được những sản phẩm của mình. Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới.
Điều đó càng khẳng định vai trò và tầm quan trọng của Đấu thầu theo quy định của pháp luật. Trước đây, chúng ta đã bắt đầu xây dựng chính sách Đấu thầu từ các Quyết định và chỉ hạn định trong lĩnh vực xây lắp hoặc 9 mua sắm hàng hoá mà chưa có một hệ thống hoàn chỉnh, đến nay chúng ta đã xây dựng và ban hành Luật Đấu thầu, quy định thống nhất cho tất cả các lĩnh vực lựa chọn nhà thầu dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hoá và xây lắp. Những quy định đó được xây dựng trên cơ sở tiếp thu, chắt lọc các kiến thức, kinh nghiệm các quy định về lựa chọn nhà thầu của các tổ chức quốc tế, các quốc gia tiên tiến trên thế giới nhằm đảm bảo cho quy định của pháp luật về lựa chọn nhà thầu của Việt Nam phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và dân trí của Việt Nam đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế. Trong bối cảnh đó, hoạt động Đấu thầu có tầm quan trọng nhất định trong quá trình toàn cầu hoá.
Cụ thể như sau: + Thứ nhất, bên cạnh việc chúng ta là thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế khu vực Châu á Thái Bình Dương (APEC) và cũng đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nên Luật Đấu thầu của Việt Nam ra đời thay thế cho Quy chế Đấu thầu trước đây cùng với Nghị định hướng dẫn và hàng loạt các thông tư của các bộ có liên quan cho phép công tác Đấu thầu của Việt Nam thuận lợi hơn khi tổ chức Đấu thầu quốc tế. + Thứ hai, với các tổ chức quốc tế lớn như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), việc thông qua Luật Đấu của Việt Nam đảm bảo việc mua sắm công của nước ta tiến sát hơn với những quy định của các tổ chức này.Phương thức lựa chọn nhà thầu 1. Phương thức một giai đoạn, một túi hồ sơ: Phương thức này được áp dụng trong các trường hợp sau đây: a. Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ; b.Chào hàng cạnh tranh đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; c.