CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm về đào tạo nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Theo Liên hợp quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế-xã hội trong một cộng đồng” [12] Đứng trên quan điểm của quản trị nguồn nhân lực hiện đại, PGS.TS Trần Kim Dung cho rằng: “Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có các vai trò khác nhau và liên kết với nhau nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của tổ chức” [4,tr. Ngoài ra, theo tác giả TS Nguyễn Quốc Tuấn: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [11,tr.15] Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá.
Các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội. Những khái niệm trên đây chỉ là nguồn nhân lực ở phạm vi vĩ mô của nền kinh tế. Trong phạm vi tổ chức, nguồn nhân lực được hiểu: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm: Tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. Khái niệm này chưa nêu rõ sức mạnh tiềm ẩn của nguồn nhân lực trong một tổ chức nếu họ được động viên, phối hợp tốt với nhau.2 Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực “Các khái niệm giáo dục, đào tạo, phát triển đều đề cập đến một quá trình tương tự quá trình cho phép con người tiếp thu các kiến thức, học các kĩ năng mới và thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của các cá nhân” [4,tr.“Tuy nhiên đào tạo có định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện thời của cá nhân, giúp các cá nhân có ngay các kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt các công việc hiện tại”.199] “Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình.
Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động hiệu quả hơn" [5,tr.29] Đào tạo nguồn nhân lực (ĐTNNL) là quá trình thúc đẩy việc học tập có tính tổ chức nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc và tạo ra sự thay đổi tích cực thông qua việc thực hiện các giải pháp đào tạo, các sáng kiến và các biện pháp quản lý với mục đích phát triển tổ chức, phát triển cá nhân. Khái niệm trên chưa nhấn mạnh đến mục tiêu cuối cùng của ĐTNNL là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tạo tiền đề để phát triển tổ chức. Rothwell (1997) thì: “ĐTNNL đề cập đến kinh nghiệm học tập có tổ chức do người chủ doanh nghiệp tài trợ. Nó được thiết kế và thực hiện với mục tiêu nâng cao kết quả thực hiện công việc và cải thiện điều kiện con người thông qua việc đảm bảo kết hợp giữa mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của cá nhân”.
[12] Đào tạo nguồn nhân lực còn có một số mục tiêu và mang các khái niệm sau: Hoạch định và thực hiện ĐTNNL với mục tiêu nâng cao kết quả thực hiện công việc: Mục tiêu của hoạt động ĐTNNL nhằm nâng cao khả năng thực hiện công việc trong hiện tại cũng như trong tương lai. Môi trường, văn hóa tổ chức là những yếu tố quan trọng trong thiết kế đào tạo và vận dụng những kiến thức này để tác động đến kết quả thực hiện công việc; Cải thiện điều kiện con người: Các nỗ lực về ĐTNNL dựa trên sự nhân đạo thể hiện qua: tin tưởng sự nỗ lực của con người; niềm tin rằng con người có khả năng học 6 hỏi và phát triển liên tục trong cuộc sống; nhấn mạnh vào sự quan trọng và giá trị cá nhân của con người với nhu cầu, tình cảm và mong muốn khác nhau; Đảm bảo kết hợp giữa mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của cá nhân: Mục tiêu cá nhân có thể tương thích với mục tiêu của tổ chức. Chỉ khi thực sự tôn trọng (thậm chí tài trợ) cho người lao động trong việc đạt được mục tiêu cá nhân thì tổ chức mới có thể có được sự gắn kết của người lao động và tăng được năng suất lao động. Khái niệm này nhấn mạnh sự tài trợ của người chủ lao động cho nhân viên trong hoạt động ĐTNNL.
Khái niệm này khác khái niệm 1 là nhấn mạnh đến cải thiện điều kiện con người, tôn trọng con người trong ĐTNNL. Từ sự phân tích các khái niệm ĐTNNL trên, khái niệm ĐTNNL trong luận văn được hiểu như sau: “ĐTNNL là quá trình thúc đẩy việc học tập có tính tổ chức nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc và tạo ra sự thay đổi tích cực thông qua việc thực hiện các giải pháp đào tạo, các sáng kiến và các biện pháp quản lý với mục đích phát triển tổ chức, phát triển cá nhân. Mục tiêu, ý nghĩa của đào tạo nguồn nhân lực Mục tiêu chung của việc đào tạo và phát triển nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp, thông qua việc giúp người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn nghề nghiệp của mình và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, động cơ làm việc tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ trong tương lai. Trong các tổ chức, đào tạo và phát triển có tác dụng và ý nghĩa nhất định đối với cả tổ chức và người lao động.
Đối với người lao động, được đào tạo tốt sẽ cập nhật được kiến thức hiện đại, trau dồi kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và có thái độ tích cực trong công việc. Trực tiếp giúp nhân viên thực hiện công việc tốt hơn, đặc biệt khi nhân viên thực hiện công việc không đáp ứng được các tiêu chuẩn mẫu hoặc khi nhân viên nhận công việc mới. Trong quá trình phát triển của khoa học và công nghệ, người lao động phải luôn được đào tạo để có thể tiếp cận được những công nghệ hiện đại tiến đến làm chủ công nghệ đó và áp dụng chúng vào quá trình làm việc mang lại hiệu quả ngày càng cao. Được học tập cũng tạo cho người lao động có cách nhìn, cách tư duy mới, sáng tạo trong công việc của họ, đó cũng chính là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc.
7 Bên cạnh quá trình cập nhật và làm chủ công nghệ, người lao động cũng cần phải tập huấn kỹ năng nghiệp vụ và kỹ năng mềm để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Đối với tổ chức, đào tạo nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu, chiến lược của tổ chức. Chất lượng nguồn nhân lực tốt tạo nên lợi thế cạnh tranh cho tổ chức, giúp cho tổ chức thích ứng tốt quá trình thay đổi của môi trường, của thị trường và thích ứng kịp thời với sự thay đổi của xã hội. Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực mang đến cho tổ chức những lợi ích sau: Giúp tổ chức nâng cao năng suất lao động và hiệu quả hoạt động.
Duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo lợi thế cạnh tranh cho tổ chức; Cải tiến năng suất, nâng cao chất lượng công việc và mang đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, quá trình vận hành doanh nghiệp sẽ diễn ra một cách trơn tru và nhịp nhàng hơn vì người lao động đã được trang bị kiến thức, kỹ năng phù hợp với công việc và thái độ tích cực hơn trong công việc; Hạn chế được những lỗi kỹ thuật, tai nạn lao động và những thất thoát; Tránh tình trạng quản lý lỗi thời. Các nhà quản trị cần áp dụng các phương pháp quản lý sao cho phù hợp được với những thay đổi về quy trình công nghệ, kỹ thuật và môi trường kinh doanh; Giải quyết các vấn đề về tổ chức. Đào tạo và phát triển có thể giúp các nhà quản trị giải quyết các vấn đề về mâu thuẫn, xung đột giữa các cá nhân và giữa công đoàn với các nhà quản trị, đề ra các chính sách về quản lý nguồn nhân lực của tổ chức có hiệu quả; Hướng dẫn công việc cho nhân viên mới, nhân viên mới thường gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ trong những ngày đầu làm việc trong tổ chức, doanh nghiệp, các chương trình định hướng công việc đối với nhân viên mới sẽ giúp họ mau chóng thích ứng với môi trường làm việc mới của doanh nghiệp; Chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kế cận. Đào tạo và phát triển giúp cho nhân viên có được những kỹ năng cần thiết cho các cơ hội thăng tiến và thay thế cho các cán bộ quản lý, chuyên môn khi cần thiết; Đối với xã hội, đào tạo nguồn nhân lực giúp nâng cao năng suất lao động của toàn xã hội, cải thiện thu nhập của người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, giảm tệ nạn xã hội và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Đặc điểm nguồn nhân lực Ngành BHXH 1. Đặc điểm của Ngành BHXH Cuộc sống con người luôn phấn đấu cho an sinh hạnh phúc, nhưng quy luật của tạo hoá là sinh ra, lớn lên và già yếu, đi theo đó là những rủi ro, ốm đau, hoạn nạn có thể đến bất cứ lúc nào. Với trí óc thiên phú, con người luôn có những phát kiến khoa học cả về tự nhiên và xã hội để chế ngự thiên nhiên, khắc phục những diễn biến bất thường của quy luật, làm cho xã hội không ngừng phát triển.