CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Các khái niệm - Nhân lực [4], [6], [7] Nhân lực là sức người về mặt dùng trong lao động sản xuất, đồng nghĩa với nhân công. Nhân lực là thể lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Thể lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động. Nhân lực của một doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp. Nhân lực cũng có thể hiểu là sức mạnh của lực lượng lao động trong doanh nghiệp. Sức mạnh đó phải được kết hợp của các loại người lao động và của các nhóm yếu tố : sức khỏe, trình độ, tâm lý và khả năng cố gắng.
Như vậy, nhân lực là nguồn lực của mỗi người, bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách. Thể lực của con người thể hiện sức khỏe, khả năng sử dụng cơ bắp, chân tay, nó phụ thuộc vào trình trạng sức khỏe, mức sống, mức thu nhập, chế độ sinh hoạt, y tế, tuổi tác hay giới tính… Trí lực của con người thể hiện khả năng suy nghĩ, sự hiểu biết hay khả năng làm việc bằng trí óc của con người, nó phụ thuộc vào năng khiếu bẩm sinh, quá trình học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân. Nhân cách là những nét đặc trưng tiêu biểu của con người, được hình thành trong sự kết hợp giữa hiệu quả giáo dụng và môi trường tự nhiên. Luan van 9 - Nguồn nhân lực [4], [6], [7], [11], [14] Khái niệm « nguồn nhân lực » được sử dụng nhiều hơn vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và ở một số nước châu Á.
Ở nước ta, khái niệm « nguồn nhân lực » được nhắc đến nhiều kể từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có tại liệu nào chính thức đưa ra định nghĩa « nguồn nhân lực », mặc dù có bài viết nghiên cứu về nguồn lực con người, về tài nguyên con người. Có thể nói, cho đến nay vẫn có những nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực. Có thể nêu lên một số quan niệm : - Nguồn nhân lực là tổng hợp các cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
- Theo quản lý nhân lực trong doanh nghiệp : Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng là sức lao động của con người, một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất trong các doanh nghiệp. Nguồn nhân lực trong các tổ chức khác nhau thì khác nhau, và do chính đặc điểm của các cá nhân trong tổ chức tạo nên. Những cá nhân của các tổ chức có năng lực, đặc điểm, tìm năng phát triển khác nhau cũng tạo ra những tiềm lực khác nhau về nguồn lực cho mỗi tổ chức.
Từ những vấn đề trên, chúng ta hiểu : Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm : thể lực, trí lực và nhân cách của con người nhằm đáp ứng mục tiêu của tổ chức và yêu cầu của người lao động. Nguồn nhân lực trong tổ chức, doanh nghiệp một mặt là động lực thúc đẩy sự phát triển của tổ chức, mặt khác, nguồn nhân lực cũng là mục tiêu của chính sự phát triển của tổ chức đó. Hay nói cách khác sự phát triển của tổ chức, doanh nghiệp cũng nhằm phục vụ lợ ích và tạo điều kiện phát triển cho Luan van 10 nguồn nhân lực. Do đó, giữa tổ chức, doanh nghiệp và người lao động trong tổ chức phải có một mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ để cùng nhau phát triển bền vững trong sự phát triển chung của xã hội.
- Đào tạo nguồn nhân lực [4], [6], [7], [8], [9], [11], [14] Ngày nay, có nhiều quan niệm khác nhau về đào tạo nguồn nhân lực, tuy nhiên tất cả điều thống nhất đó là một hoạt động có tổ chức được tiến hành trong một thời gian xác định nhằm đem đến sự thay đổi về trình độ, nhân cách, năng lực, kỹ năng và thái độ của người lao động đối với công việc của họ, nhằm giúp người lao động thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình. Đào tạo nguồn nhân lực là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách, năng lực của người được đào tạo. - Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai, để họ có thể chuyển tới công việc mới trong thời gian thích hợp. - Đào tạo nguồn nhân lực là tạo ra môi trường, tại đó cá nhân có thể học kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi cụ thể liên quan đến công việc, nhằm giúp người lao động thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình.
- Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng thông qua các chương trình học tập ngắn hạn và dài hạn dành cho nhân viên với sự giúp đỡ trực tiếp của các giảng viên, theo một chương trình đào tạo cụ thể. Kết thúc chương trình đào tạo, nhân viên sẽ nhận được bằng cấp, chứng chỉ tương ứng cho khóa đào tạo mà mình tham gia. Nhìn chung các khái niệm đào tạo đều đề cập đến một quá trình tương tự : Quá trình cho phép con người tiếp thu các kiến thức, học các kỹ năng mới và thay đổi quan điểm hay hành vi để nâng cao khả năng thực hiện công việc của mình trong tổ chức. Ý nghĩa của công tác đào tạo nguồn nhân lực [2], [4], [6], [7], [11], [14] Đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch.
Nó là động lực, chìa khoá mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và người lao động. Vì thế, việc tổ chức đào tạo một cách có khoa học trong doanh nghiệp du lịch làm cho yếu tố con người, yếu tố then chốt trong kinh doanh du lịch được cải thiện, nâng cao về mọi mặt, tạo ra sản phẩm chất lượng cao và người tiêu dùng hài lòng, cảm thấy thoải mái, dễ chịu. Hơn nữa, làm tốt công tác đào tạo còn tạo ra bầu không khí làm việc tốt đẹp trong doanh nghiệp. Đào tạo nguồn nhân lực là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu chiến lược tổ chức.
Công tác đào tạo trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng, khả năng sáng tạo và đổi mới của người lao động trong các doanh nghiệp. Có thể, nêu ra đây vài ý nghĩa về công tác đào tạo nguồn nhân lực sau: - Giúp cho nhân viên nâng cao kiến thức và kỹ năng công việc, qua đó nhân viên thực hiện công việc tốt hơn. Đặc biệt, khi nhân viên thực hiện công việc không đáp ứng các mục tiêu của doanh nghiệp, hoặc khi mới nhận công việc mới. Từ đó, nâng cao năng suất lao động nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.
- Tạo điều kiện áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quản lý vào doanh nghiệp, cập nhật kiến thức mới. - Tạo động lực thúc đẩy sự phát triển và mang lại thành công của doanh nghiệp. - Tạo ra một lực lượng lao động lành nghề, linh hoạt và có khả năng thích nghi với sự thay đổi môi trường kinh doanh và tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. - Giải quyết các vấn đề mâu thuẫn, xung đột giữa người lao động với Luan van 12 các nhà quản lý, đề ra các chính sách quản lý nguồn nhân lực có hiệu quả.
- Thoả mãn nhu cầu phát triển của nhân viên, bởi vì nhân viên được trang bị kỹ năng chuyên môn nên muốn được trao những nhiệm vụ có tính thách thức cao, có nhiều cơ hội thăng tiến. - Tạo ra được sự gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp, sự tương thích giữa người lao động với công việc hiện tại cũng như trong tương lai. Đồng thời tạo ra tính chuyên nghiệp cho người lao động, giúp cho nhân viên có thái độ tích cực và động cơ làm việc. Đặc điểm của nguồn nhân lực du lịch ảnh hưởng đến công tác đào tạo [4], [5], [10], [16], [22], [23] Lao động trong doanh nghiệp du lịch được hình thành một cách tất yếu là một bộ phận của lao động xã hội.
Đặc điểm của lao động trong doanh nghiệp du lịch do tính chất và nội dung của hoạt động kinh doanh du lịch quyết định. Hoạt động lao động trong doanh nghiệp du lịch chủ yếu là lao động tạo ra dịch vụ không có biểu hiện vật chất nên lao động tạo ra chúng là lao động phi vật chất. Đối tượng phục vụ trong hoạt động doanh nghiệp du lịch là khách du lịch. Lao động tạo ra dịch vụ là những hoạt động gây tác động trực tiếp đến người có nhu cầu đối với các dịch vụ đó.
Nó tạo ra điều kiện cần thiết cho lưu trú và tiêu thụ sản phẩm ăn uống, du lịch của khách. Riêng đối với khâu chế biến thức ăn, đối tượng lao động là nguyên liệu. Khả năng áp dụng khoa học – kỹ thuật trong hoạt động kinh doanh du lịch là rất hạn chế. Bởi vì đối với các hoạt động phục vụ ăn uống có điều kiện áp dụng khoa học – kỹ thuật hơn.
Khách du lịch trực tiếp đánh giá chất lượng của hoạt động lao động doanh nghiệp du lịch sản phẩm lao động trong hoạt động kinh doanh du lịch là Luan van 13 dịch vụ hàng hoá nhằm thoả mãn mọi nhu cầu của du khách. Giá trị sử dụng của các dịch vụ được thể hiện ngay trong hoạt động phục vụ của nhân viên. Các dịch vụ không tách rời người sản xuất ra chúng, sản xuất và dịch vụ diễn ra đồng thời về cả thời gian và không gian. Người tiêu dùng dịch vụ tiếp xúc trực tiếp với người “sản xuất” ra chúng và xác định mối quan hệ giữa họ.
Chính vì vậy, sự đánh giá chất lượng dịch vụ của du khách mang tính chất chủ quan.