Chương 1 trình bày các vấn đề mang tính lý thuyết về chất lượng ĐTN tại các cơ sở dạy nghề như sau: Luật dạy nghề ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006 đưa ra khái niệm như sau: “Dạy (đào tạo) nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”. Luật cũng quy định có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề và về hình thức dạy nghề bao gồm cả dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên. Giới thiệu một số khái niệm về chất lượng và quan niệm về chất lượng đào tạo, từ đó đưa ra khái niệm về chất lượng ĐTN như sau: “Chất lượng ĐTN là kết quả tác động tích cực của tất cả các yếu tố cấu thành hệ thống đào tạo nghề và quá trình đào tạo vận hành trong môi trường nhất định” ii Tiêu chí đo lường chất lượng ĐTN là: Quy mô - cơ cấu đào tạo; Kết quả học tập của học sinh nghề; Sự phù hợp công việc và ngành học; Có phẩm chất, thái độ lao động tốt. Nội dung ĐTN được xem xét trên các khía cạnh: Đào tạo kiến thức nghề nghiệp; Đào tạo kỹ năng nghề nghiệp; Đào tạo năng lực, phẩm chất.
Luận văn cũng giới thiệu một số hình thức đào tạo nghề chủ yếu cùng với các ưu và nhược điểm của các hình thức này, bao gồm: ĐTN chính quy; ĐTN tại nơi làm việc; Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp; ĐTN tại các trung tâm dạy nghề. Phân tích một số các yếu tố tác động đến chất lượng ĐTN bao gồm: * Yếu tố đầu vào * Yếu tố thuộc quá trình đào tạo: bao gồm: - Nội dung chương trình - Đội ngũ giáo viên - Phương pháp dạy học - Tổ chức quản lý đào tạo - Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học - Tài chính cho đào tạo * Môi trường xã hội Luận văn cũng giới thiệu một số kinh nghiệm ĐTN của các nước khu vực Châu Á và Đông Nam Á và đặc biệt giới thiệu đến mô hình ĐTN tiên tiến của trường Hacotab (trường cao đẳng nghề Công nghiệp và Kinh tế Hà nội). Trước thực tiễn về chất lượng lao động tại tỉnh Hải Dương còn nhiều bất cập, bên cạnh đó sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn, cùng với đó là sự dịch chuyển của một số nhà máy, DN từ Hà Nội về Hải Dương cũng khá nhiều (đặc biệt là một số ngành lắp ráp). Do đó yêu cầu lao động phải có trình độ, thúc đẩy nâng cao chất lượng dạy nghề tại địa phương.
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐTN TẠI CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG. Phân tích sơ lược về hệ thống ĐTN của tỉnh Hải Dương và đi vào sâu phân tích thực trạng về chất lượng ĐTN tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh. Từ đó đưa ra một số tồn tại và nguyên nhân hạn chế đến chất lượng ĐTN. iii 1) Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương: Là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, tiếp giáp với 6 tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình và Hưng Yên, trong tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là tỉnh có nhiều lợi thế so sánh về vị trí địa lý, về con người và các tiềm năng phát triển khác.
2) Đặc điểm hệ thống đào tạo nghề: Hệ thống dạy nghề được triển khai rộng rãi trong tỉnh với các loại hình đào tạo cơ bản như sau: Trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, các trung tâm dạy nghề. Về công tác dạy nghề: Từ năm 2006-2010 đã dạy nghề cho 171.291 người, đạt 164,7% kế hoạch. Các doanh nghiệp tự đào tạo là 26. Thực trạng hệ thống đào tạo: Đến năm 2010 có 58 cơ sở dạy nghề, tăng 30 cơ sở so với năm 2005.
Hệ thống trường được mở rộng, đến 2010 có 05 trường cao đẳng nghề, 05 trường trung cấp nghề và 06 trung tâm dạy nghề; thực hiện XHH trong lĩnh vực dạy nghề.2: Số lượng các cơ sở dạy nghề) 3) Kết quả đào tạo nghề của tỉnh Hải Dương trong những năm qua: * Số lượng ĐTN qua các năm: i) Quy mô đào tạo: Trong giai đoạn 2002 - 2010 số lượng đào tạo nghề đã tăng lên đáng kể trong mấy năm gần đây, từ hơn 10 nghìn học sinh năm 2002 đã lên 34.509 học sinh năm 2008 và đến năm 2010 là 37. Như vậy trong vòng 8 năm, số học sinh được đào tạo đã tăng lên 24.5: Kết quả ĐTN hàng năm) ii) Cơ cấu đào tạo: Về trình độ đào tạo: Đào tạo nghề theo ba cấp trình độ là hướng mà Đảng bộ và chính quyền tỉnh Hải Dương đang và tiếp tục thực hiện trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ lao động, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Về hình thức đào tạo: cơ cấu học sinh học nghề nghề dài hạn có xu hướng tăng lên trong giai đoạn 2002-2004, điều này đồng nghĩa với cơ cấu học sinh học nghề ngắn hạn giảm xuống. Tuy nhiên xu hướng cơ cấu này thay đổi ngược chiều trong những năm 2004-2006.
Sau đó xu hướng học nghề dài hạn có xu hướng chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Như vậy, có thể thấy trước những yêu cầu khác nhau về nhu cầu qua đào tạo trong ngắn hạn, dài hạn tại Hải dương mà nhu cầu về đạo tạo nghề cũng khác nhau theo các năm và giai đoạn. Tuy nhiên, xu hướng này hoàn toàn phù hợp với khuynh hướng phát triển và yêu cầu của doanh nghiệp.1: Cơ cấu kết quả ĐTN hàng năm). iv Về ngành nghề đào tạo: Cơ cấu ngành nghề đào tạo đã từng bước được điều chỉnh theo cơ cấu ngành nghề trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; đã mở thêm nhiều nghề đào tạo mới mà thị trường lao động có nhu cầu và các nghề phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.9: Cơ cấu ngành nghề đào tạo) * Phân tích thực trạng về chất lượng ĐTN: i) Kết quả học tập của học sinh nghề: Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đào tạo nghề tại Hải Dương ở các hệ cũng tăng đáng kể năm 2010: hệ sơ cấp và phổ cập nghề: số học sinh đạt tốt nghiệp là 100%, trung cấp là 96,1% và cao đẳng là 95,3%.
So với mặt bằng chung của cả nước, tỷ lệ này tương đối là cao (tính chung cả nước, tỷ lệ tốt nghiệp học nghề đạt 95%). Có đến 70% học sinh ra trường với tấm bằng khá, giỏi, còn lại 30% đạt loại trung bình và dưới trung bình. Việc đánh giá kết quả học tập đối với học sinh nghề của tỉnh Hải Dương vẫn chủ yếu dựa theo xu hướng cũ (Biểu 2.1: Xu hướng học tập của học sinh nghề). Vì vậy, chất lượng đào tạo nghề không chỉ dựa vào kết quả học tập của học sinh, sinh viên mà còn dựa vào năng lực làm việc của học sinh sau khi ra trường.
ii) Sự phù hợp công việc và ngành nghề đào tạo: Mức độ yêu thích ngành nghề được đào tạo: Trong điều tra 100 sinh viên tại các cơ sở đào tạo nghề, thì chỉ có 10 sinh viên (tương ứng là 10%) số người được hỏi trả lời là thích công việc này nên chọn lựa từ đầu. Theo điều tra khảo sát cho thấy, trong 100 học sinh tại một số cơ sở dạy nghề trong tỉnh được hỏi có yêu thích nghề mà mình đang được đào tạo hay không thì chỉ có 60% trả lời là có, còn lại là không nói gì hoặc nói là “không biết”. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của sinh viên vì chính họ cũng chưa định hướng được nghề nghiệp cho bản thân mình, làm hạn chế sự cố gắng, nỗ lực đạt được mục tiêu trong học tập. Mức độ phù hợp của nghề được đào tạo với việc làm: Theo thống kê của của Sở Lao động – Thương binh & Xã hội của tỉnh Hải Dương thì có khoảng 74 – 75% số học sinh nghề có việc làm sau khi tốt nghiệp, riêng cao đẳng nghề có việc làm ngay sau tốt nghiệp đạt 88%.
So với mặt bằng chung của cả nước, tỷ lệ này được đánh giá tương đối cao vì tính chung cả nước thì có 60 - 70 % học sinh học nghề có việc làm sau khi tốt nghiệp và riêng cao đẳng nghề là 85%. v Theo khảo sát trong 100 sinh viên đã ra trường làm việc tại công ty lắp máy Lilama và công ty Cổ phần May Hải Dương, nhà máy Đá Mài cho thấy: 80,2% học sinh được làm đúng ngành nghề đào tạo, còn 19,8% lao động làm không đúng ngành nghề nên phải đi bồi dưỡng thêm 3 tháng nữa. Trong đó một số lao động được đào tạo một nghề lại làm một nghề khác. Tỷ lệ làm không đúng chuyên môn được đào tạo ở bậc trung cấp nghề và cao đẳng nghề cao hơn nhiều so với hệ đào tạo ngắn hạn.
Phần là do những người này lẽ ra làm việc ở khối sản xuất lại làm ở khối văn phòng. Sự không phù hợp này gây ra một lãng phí rất lớn trong quá trình đào tạo.10: Đánh giá về mức độ phù hợp giữa nghề được đào tạo và việc làm theo trình độ đào tạo). Việc làm và thu nhập của học sinh nghề đã tốt nghiệp: Tỷ lệ học sinh tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp trong tỉnh trong thời gian 1 năm (năm 2010) là 85,3% trong khi đó tỷ lệ này thấp hơn đối với các sinh viên tốt nghiệp các trường nghề và trung tâm dạy nghề là 85,9%. Như vậy có thể khẳng định, học nghề không khó xin việc.
Mức lương bình quân cũng tăng lên qua các năm, bình quân thu nhập mỗi lao động/ tháng chỉ giao động từ 1,5 – 2 triệu và sang năm 2009 có phần tăng lên đôi chút và đến năm 2010 thì mức thu nhập tính trung bình tháng của lao động đã qua đào tạo nghề lên đến trên 2 triệu đồng/1 người/1 tháng. Nguyên nhân là do: Phần lớn lao động đã qua đào tạo nghề đều làm việc trong các nhà máy xí nghiệp và thường xuyên làm thêm giờ để kịp tiến độ hoàn thiện các đơn đặt hàng. Do đó thu nhập bình quân năm của người lao động cũng có phần được cải thiện. Hơn nữa, hàng năm chính phủ đều thực hiện tăng mức lương tối thiểu vì thế thu nhập trung bình cũng từ đó mà tăng theo.