Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC SỞ 1. Khái niệm công chức Sở 1.1 Khái niệm công chức Trước năm 1975, Lào là quốc gia duy trì chế độ quân chủ với tên gọi là Vương quốc Lào. Năm 1975, phong trào cộng sản Pathet Lào do Hoàng thân Souphanouvong lãnh đạo đã xoá bỏ chính quyền Vương quốc Lào và nắm quyền lãnh đạo đất nước. Ngày 02/12/1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào quyết định xóa bỏ chế độ quân chủ, thành lập nước CHDCND Lào.
Hệ thống chính trị của nước CHDCND Lào gồm các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp), ĐNDCM Lào, Mặt trận Lào xây dựng đất nước và các tổ chức thành viên. Nhà nước Lào tiến hành thể chế hoá và thực hiện đường lối, chính sách do ĐNDCM Lào đề ra, quản lý đất nước bằng pháp luật. Nguồn lực quan trọng nhất để vận hành hệ thống chính trị của Lào là đội ngũ CBCC. Vì vậy, ngay khi NN ra đời đã ban hành các quy định pháp luật để quản lý đội ngũ CBCC.
Tiêu biểu là Quyết định số 47/TTg ngày 23/6/1976 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế CBCC [52; tr12]. Theo Quy chế này, thuật ngữ “cán bộ, công chức” được sử dụng đồng thời trong các văn bản của Nhà nước mà không có sự phân biệt rạch ròi bởi việc sử dụng đội ngũ CBCC trong các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị. Các quy định về tiêu chuẩn, chức danh, cấp, bậc, loại chức vụ còn rất đơn giản, việc quản lý còn dựa nhiều vào các quy định của Ban chấp hành Trung ương ĐNDCM Lào. Chuyển sang thời kỳ đổi mới nước CHDCND Lào, khái niệm công chức được quy định theo Luật Cán bộ, Công chức số 74/QH ngày 18/12/2015 về cán bộ, công chức nước CHDCND Lào.
Luật chỉ rõ “Công dân Lào được tuyển 9 dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước” [46; tr1-2]. Cũng giống như ở Việt Nam trước khi có Luật CBCC, tại nước CHDCND Lào, quan niệm về cán bộ cũng có sự khác nhau trong từng thời kỳ. Thuật ngữ “Cán bộ” được dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là trong quân đội để chỉ những người làm nhiệm vụ chỉ huy từ tiểu đội phó trở lên và để phân biệt cán bộ với chiến sĩ. Sau đó, từ “cán bộ” được dùng để chỉ tất cả những người hoạt động kháng chiến thoát ly, để phân biệt với người dân.
Hiện nay, theo Pháp lệnh CBCC và các văn bản khác của Chính phủ nước CHDCND Lào, cụm từ “cán bộ công chức” được sử dụng chung cho tất cả những người là công dân Lào trong biên chế, được tuyển dụng và bổ nhiệm làm việc thường xuyên trong các cơ quan của ĐNDCM Lào, của Mặt trận Lào Xây dựng đất nước và các TC đoàn thể ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, các TC đại diện của Lào ở nước ngoài, hưởng lương từ ngân sách NN. Tại nước CHDCND Lào, theo Pháp lệnh CBCC năm 2012, khái niệm công chức không tách rời khái niệm cán bộ và cũng không có sự phân biệt với viên chức như quy định của pháp luật Việt Nam. Điều đó một lần nữa khẳng định rằng: mỗi quốc gia có một quan niệm khác nhau về công chức. Có quốc gia thì xác định công chức bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp dịch vụ, nhưng cũng có nước chỉ giới hạn khái niệm công chức trong phạm vi quản lý NN, thi hành pháp luật hay trong TC các cơ quan hành chính NN.
Tuy nhiên, nhìn chung, theo quan niệm của đa số quốc gia thì công chức NN có một số đặc điểm sau: - Công chức là công dân của quốc gia. - Được tuyển dụng hay bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một 10 công sở NN từ trung ương đến địa phương, ở trong nước cũng như nước ngoài. - Được giữ một chức vụ nhất định trong hệ thống công vụ hành chính NN. - Được hưởng lương và có thể kèm theo phụ cấp (theo ngành, theo khu vực…) từ ngân sách NN.
Từ những phân tích trên, có thể đi đến kết luận quan niệm công chức của nước CHDCND Lào như sau: Công chức là người mang quốc tịch Lào, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh hoặc phân công làm nhiệm vụ thường xuyên trong biên chế của các cơ quan, TC của NN từ trung ương đến địa phương và các TC đại diện CHCDND Lào tại nước ngoài, trong cơ quan thuộc quân đội, công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được hưởng lương từ ngân sách NN và những người là thành viên của Hội đồng quản trị, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng trong các doanh nghiệp NN [33 ;tr7]. Từ quan niệm trên, công chức của nước CHDCND Lào là người thoả mãn các tiêu chí cơ bản như sau: Thứ nhất, là công dân Lào. Thứ hai, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh hoặc phân công làm nhiệm vụ thường xuyên trong biên chế. Thứ ba, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn.
Thứ tư, được hưởng lương từ ngân sách NN.2 Công chức Sở 1.1 Khái niệm công chức sở Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), là cấp thứ 2 trong 3 cấp quản lý hành chính của bộ máy hành chính nhà nước,được xác định là cấp chiến lược, là cầu nối đầu tiên chuyển tải các chủ trương, chính sách 11 của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người dân đồng thời cũng là cấp có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các quyết định trên địa bàn. Cấp tỉnh có vị trí trung tâm chi phối mọi hoạt động của các cấp chính quyền địa phương (huyện ), chỉ đạo phát triển toàn diện các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh trên địa bàn Như vậy, công chức Sở là một bộ phận của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh và được quy định thuộc nhóm công chức trong các cơ quan hành chính ở cấp tỉnh và cấp huyện Từ phân tích trên, có thể đi đến khái niệm công chức như sau: “Công chức Sở là một bộ phận của công chức hành chính nhà nước gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm được phân theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính; được hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định, được UBND tỉnh giao thực hiện những nhiệm vụ cụ thể và có những quyền hạn nhất định để giúp ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình” 1.2 Đặc điểm công chức sở Hoạt động QLNN là hoạt động tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra và điều hành mọi hoạt động trong xã hội. Đó chính là hoạt động điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người bằng quyền lực nhà nước. Hiệu lực của bộ máy nhà nước nói chung và của hệ thống chính trị nói riêng, xét cho cùng, được quyết định bởi phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực của đội ngũ công chức.
Đội ngũ công chức nước CHDCND Lào nói chung, đội ngũ công chức tại các Sở nói riêng, được hình thành và phát triển gắn liền với quá trình cách mạng qua các thời kỳ khác nhau. Ngoài những đặc điểm chung, do đặc thù nghề nghiệp, lĩnh vực công tác, đội ngũ công chức các Sở còn có một số đặc điểm riêng như sau: 12 Thứ nhất, chất lượng công chức các Sở quyết định hiệu quả công tác quản lý nhà nước ở địa phương. Về mặt pháp lý, các Sở không thực hiện chức năng quản lý nhà nước (chỉ thực hiện chức năng tham mưu, giúp việc cho UBND cấp tỉnh), tuy vậy, trên thực tế, hệ thống các Sở lại trực tiếp tham gia thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực trên phạm vi lãnh thổ nhất định. Tất cả các tiến trình quản lý nhà nước địa phương đều do công chức chuyên môn thuộc Sở thực hiện.
Công chức các Sở có trách nhiệm triển khai, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ của ngành. Thứ hai, công chức các Sở là lực lượng lao động chuyên nghiệp có tính chuyên môn hóa cao, là cầu nối giữa Trung ương với chính quyền địa phương với vai trò trực tiếp chuyển tải và triển khai thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, công chức các Sở có năng lực công tác, có chuyên môn, nghiệp vụ thì việc triển khai thực hiện sẽ có hiệu quả. Ngược lại, nếu đội ngũ này yếu về năng lực và chuyên môn, nghiệp vụ thì việc chuyển tải và cụ thể hóa các đường lối chính sách trong thực tiễn sẽ không đạt hiệu quả.
Thứ ba, hoạt động của công chức các Sở diễn ra thường xuyên, liên tục, đòi hỏi hệ thống các Sở và đội ngũ công chức phải đủ năng lực, kỹ năng để giải quyết tất cả các vấn đề thuộc phạm vi, lĩnh vực công tác để tham mưu một cách nhanh chóng, kịp thời.2 Chức năng, nhiệm vụ của Sở Sở là cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Tỉnh trưởng [47; tr5-7]. Nhiệm vụ, quyền hạn của sở - Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: 13 a) Dự thảo quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao; b) Dự thảo văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của sở; c) Dự thảo văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn, chức danh đối với Trưởng, Phó các đơn vị thuộc sở; Trưởng, Phó trưởng phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý. - Trình Tỉnh trưởng: a) Dự thảo quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các tổ chức, đơn vị của sở theo quy định của pháp luật; b) Dự thảo quyết định, chỉ thị cá biệt thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.