CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC 1. Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ công chức 1. Một số khái niệm Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà Nước.
Theo Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 18/3/2002 của Ban chấp hành Trung ương tại Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX “Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, , thị trấn” thì CBCC thuộc chính quyền xã là một bộ phận thuộc hệ thống chính trị ở cơ sở. Công chức xã, phường, thị trấn được quy định tại khoản h, điểm 1, điều 1 Pháp lệnh CBCC được sửa đổi bổ sung vào năm 2003 và được thể chế hóa tại Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ “Về CBCC xã, , thị trấn”. Theo quy định tại khoản 3, Điều 4 Luật công chức được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008 thì xã, , thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; Trong Luật CBCC năm 2008 quy định công chức xã, , thị trấn (gọi tắt là 6 công chức cấp xã) như sau: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam, được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Cụ thể, tại điều 61 chương V của Luật có quy định 7 chức danh là công chức cấp xã gồm: Trưởng công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với , thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - xã hội.
Công chức xã chính là lực lượng trực tiếp tham gia vào việc tiếp xúc, giải quyết các vấn đề phát sinh trong cuộc sống hàng ngày của người dân ở xã; là cầu nối giữa nhà nước với nhân dân trong việc triển khai các chủ trương, chính sách, pháp luật vào thực tiễn đời sống xã hội. Ngoài ra, công chức xã còn chính là những người trực tiếp tham gia vào công cuộc CCHC của nước ta nhằm hướng đến xây dựng một nền hành chính phục vụ đáp ứng yêu cầu bức thiết của người dân. Chính vì điều này, đòi hỏi công chức xã phải có chuyên môn, nghiệp vụ, phải đảm bảo được các tiêu chuẩn quy định và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao nhằm đáp ứng một cách tốt nhất những nhu cầu của nhân dân.Vai trò, đặc điểm của đội ngũ công chức cấp xã a. Vai trò của đội ngũ công chức cấp xã Trong hệ thống hành chính nhà nước hiện nay, chính quyền cấp xã có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước mà còn là yếu tố chi phối mạnh mẽ đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các cộng đồng dân cư và toàn thể nhân dân trong xã.
Đội ngũ công chức cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành nhiệm vụ, công vụ. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ công chức cở sở là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là mắt xích quan trọng trong cơ chế thực hiện quyền lực nhân dân. Mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đều phải thực hiện ở cấp xã. Có thể nói, đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựng Nhà 7 nước dân chủ nhân dân đến nay.
công chức cấp xã góp phần quyết định sự thành bại của chủ trương, đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Không có đội ngũ công chức cơ sở vững mạnh thì dù đường lối, chủ trương chính trị có đúng đắn cũng khó biến thành hiện thực. Đặc điểm của đội ngũ công chức cấp xã Với vị trí nền tảng, vai trò của công chức, chính quyền cấp xã được thể hiện qua các mối quan hệ: với đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; với bộ máy chính quyền; với công việc và với quần chúng nhân dân, cụ thể ở các điểm cơ bản sau: - Quan hệ giữa đường lối, nhiệm vụ chính trị với công chức là mối quan hệ nhân quả. có phẩm chất và năng lực tốt mới có thể cụ thể hóa, tổ chức thực hiện và bổ sung hoàn chỉnh tốt đường lối của Đảng.
Nếu công chức không vững mạnh thì cho dù đường lối, nhiệm vụ chính trị có đúng đắn cũng khó trở thành hiện thực. Như vậy, công chức góp phần quyết định sự thành bại của đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước ở cơ sở. - Công chức cấp xã là những người trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành; đồng thời nắm bắt việc triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng, phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, vị trí vai trò của công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân.
Công chức là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng. Lênin đã chỉ rõ: “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, người đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”. Nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”.
là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, Người đặt ở vị 8 trí có tính chất quyết định: chính sách đúng có thể không thu được kết quả nếu sai, yếu kém. Xác định vai trò của người Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hay thất bại đều do tốt hoặc kém”. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng ta xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó “ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”.
Đảng ta luôn coi có vai trò quyết định đối với sự nghiệp cách mạng. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII khẳng định trong công cuộc đổi mới của đất nước thì: Công chức hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới. Công chức nói chung có vai trò rất quan trọng, cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Chất lượng và hiệu quả thực thi pháp luật một phần được quyết định bởi sự triển khai ở cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp gắn với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng. Cơ sở xã, , thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ xã, phường, thị trấn. Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã 1.
Khái niệm * Chất lượng công chức cấp xã Theo Hồ Chí Minh, Người cho rằng người công chức có chất lượng thì phải hội đủ các tiêu chuẩn đức và tài, phẩm chất và năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phong cách, phương pháp công tác tốt trong đó phẩm chất, đạo đức là yếu tố hàng đầu. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải luôn rèn luyện người đảng viên có đủ đức và đủ tài, vừa hồng và vừa chuyên. Người luôn quan tâm, động viên và dìu dắt đội ngũ đảng viên để họ thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô tư. Đặt chữ “Đức”lên hàng đầu, nhưng Bác Hồ vẫn luôn coi trọng cái “Tài”.
Người nhìn nhận “đức”và “tài”trong mối quan hệ biện chứng, như hai mặt không thể tách rời trong một nhân cách hoàn thiện: “Có tài mà không có đức là người vô dụng”, nhưng “có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. 9 Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2000 nêu rõ: "Chất lượng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc". Khi đánh giá chất lượng đội ngũ công chức một vấn đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chất lượng của đội ngũ công chức.